Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HSST-CTN

Ngày 30/09/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Võ Hoàng – Nguyên hiệu trưởng Trường đoàn tỉnh Gia Lai-Kon Tum.

2.Ông Trần Minh Đức - Nguyên Hiệu trưởng Trường PTCS xã Diên Phú, TP. Pleiku, Gia Lai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đinh Trọng Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS-CTN ngày 16 tháng 09 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST– HS-CTN ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hữu X (tên gọi khác: Chế Văn T), S năm 1956, tại: Bình Định; Nơi cư trú: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Nguyễn B (đã chết) và con bà Trần Thị C (đã chết); Vợ là Nguyễn Thị Phương L, sinh năm: 1960 (đã ly hôn); sống chung như vợ chồng với bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976; Bị cáo có 04 người con ruột và 02 người con nuôi, con lớn nhất sinh năm 1979, con nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 14/3/2024 bị bắt theo Lệnh truy nã và bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. (Có mặt)

2. Nguyễn Hùng C1 (tên gọi khác: T2, Nguyễn Xuân H); Sinh ngày 02/12/1964, tại: Bình Định; Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Nguyễn B (đã chết) và con bà Trần Thị C (đã chết); Vợ: Y H1, sinh năm: 1964; Bị can có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 14/3/2024 bị bắt theo Lệnh truy nã và bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. (Có mặt)

- Bị hại: Bà Trần Thị N (đã chết)

Người đại diện cho bị hại: Ông Đỗ Đức T3, sinh năm 1971; địa chỉ: C T, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai (con của bị hại). (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Vi Phước C2; địa chỉ: D H, tổ B, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)

+ Ông Phạm Quang P, sinh năm 1965, địa chỉ: D Miếu Ô, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua mối quan hệ quen biết từ trước nên ngày 25/12/1981, Vi Phước C2 đi từ T nhà Nguyễn Hữu X và Nguyễn Hùng C1 (là em trai của X), tại Buôn H, xã I, huyện A (nay là xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai) chơi. Đến trưa ngày 27/12/1981, trong lúc ăn cơm thì X, C2 và C1 đã hỏi nhau về quần áo và tiền để tiêu Tết. Vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên cả ba đã bàn bạc và thống nhất, chuẩn bị vũ khí đi đến nhà máy X1 của bà Trần Thị N tại Buôn H, xã I, huyện A để cướp tài sản.

Đến khoảng 20h00' cùng ngày, C2, X và C1 đi bộ từ nhà X đến nhà máy xay xát nông sản của bà N để đi cướp tài sản. Khi đi C2 mang theo 01 khẩu súng Colt 45 và 01 quả lựu đạn, X mang theo một khẩu súng Colt 45 và 01 con dao, còn C1 mang theo 01 con dao. Khi đến nhà bà N, các đối tượng dùng khăn để bịt mặt để tránh bị phát hiện. Đồng thời, C2 phân công C1 đứng phía trước nhà để canh gác, còn X và C2 đi ra phía cửa sau, cạy cửa đột nhập vào trong nhà. Khi nghe tiếng động, bà N và ông Phạm Quang P (là con rể bà N) thức dậy, cầm hộp quẹt, định bật lên thì X dùng súng, dao đe doạ nói “Không được bật lửa”. Lúc này anh P cầm hộp quẹt từ tay bà N bật lên thì bị X dùng dao đâm một nhát vào bả vai bên trái làm anh P mất khả năng kháng cự. Thấy vậy, C2 chĩa súng vào người bà N và nói: “Tất cả đi ra sau nhà và im hết không tao bắn chết”. Lo sợ bị giết nên bà N nói: “Mấy chú đừng giết tôi có lấy gì thì tôi đưa” và cùng anh P đi ra phía sau nhà. Tại đây, X tiếp tục uy hiếp nói: “Có gì thì đưa ra” thì bà N liền tháo 02 nhẫn vàng đưa cho X. Sau đó, X và C2 tiếp tục lục soát trên người bà N lấy thêm 01 đôi bông tai vàng và 01 sợi dây chuyền vàng. Lúc này, C1 đi ra phía sau xem tình hình thì thấy X và C2 đang lục soát tài sản của bà N. C2 thấy vậy thì nói C1 vào nhà tìm kiếm tài sản để lấy. Khi C1 đi vào nhà, thấy có một túi sách treo ở cửa, C1 lục thì thấy có nhiều tiền bên trong nên đã lấy hết số tiền bỏ vào túi quần rồi tiếp tục đi ra phía trước nhà cảnh giới. Sau đó, C2 đứng canh bà N và anh P, còn X đi vào nhà lục tìm và lấy các tài sản gồm: 01 cái kéo y tá, 01 đôi dép săm pô và 02 cái áo lạnh (01 áo nam, 01 áo nữ). Khi lấy xong, X đi ra ngoài thì cả ba dùng dây trói bà N và anh P lại rồi đưa cả hai vào trong nhà, đóng cửa lại rồi tẩu thoát. Khi về tới nhà của X thì cả ba mang tài sản cướp được ra kiểm đếm gồm: 01 dây chuyền vàng, 01 đôi bông tai vàng, 02 chiếc nhẫn vàng, 01 kéo y tá, 02 áo lạnh, 01 đôi dép sam pô màu đen, 39 đồng tiền ngân hàng Việt Nam và giao cho X cất giữ. Sau đó, C1 đi về nhà C1, còn X và C2 đi ngủ.

Đến ngày 28/12/1981, Vi Phước C2, Nguyễn Hùng C1 và Nguyễn Hữu X đã bị Công an huyện A bắt giữ. Ngày 30/12/1981, Công an huyện A đã ban hành Quyết định khởi tố bị can đối với Vi Phước C2, Nguyễn Hữu X và Nguyễn Hùng C1 về tội “Cướp tài sản riêng của công dân”. Vào các ngày 11/01/1982 và 19/01/1982, Nguyễn Hùng C1 và Nguyễn Hữu X đã bỏ trốn khỏi nơi giam giữ. Đến ngày 10/7/1982, Cơ quan Công an tỉnh G - Kon Tum đã ra Lệnh truy nã số 302, 303/PC14-LTN đối với Nguyễn Hữu X và Nguyễn Hùng C1 về hành vi “Cướp tài sản riêng công dân”.

Sau khi bỏ trốn khỏi nơi giam giữ, Nguyễn Hùng C1 trốn đến huyện N, tỉnh Kon Tum thay đổi nhân thân lai lịch thành “Nguyễn Xuân H” (sinh năm 1958), còn Nguyễn Hữu X bỏ trốn đến huyện E, tỉnh Đăk Lăk và đổi tên thành “Chế Văn T” (sinh năm: 1953). Đến ngày 14/3/2024, Nguyễn Hùng C1 và Nguyễn Hữu X bị bắt theo Lệnh truy nã. Tại Cơ quan điều tra, X và C1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Vật chứng thu giữ:

- Theo Kết luận điều tra số 36/PC16 ngày 03/6/1982 của Công an tỉnh G - Kon Tum, Cáo trạng số 30/HS-TA ngày 29/7/1982 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai - Kon Tum, Bản án sơ thẩm số 78 ngày 20/9/1982 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai - Kon Tum và Bản án phúc thẩm số 396 ngày 19/11/1982 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng thể hiện Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng gồm: 01 dây chuyền vàng, 01 đôi bông tai vàng, 02 chiếc nhẫn vàng, 01 kéo y tá, 02 áo lạnh, 01 đôi dép săm pô nam màu đen, 110 đồng tiền ngân hàng Việt Nam, 02 khẩu súng Colt 45, số súng 1775645 và 774970, 15 viên đạn, 01 lựu đạn, 01 dao găm, 01 đôi giày bốt, 01 đôi giày bộ đội, 04 khăn mặt, 01 hộp bài tứ sắc, 01 áo bộ đội, 01 quần đũi, 01 chiếc ví màu nâu đã cũ, 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Hùng C1. Quá trình giải quyết đã xử lý vật chứng trả lại cho bị hại Trần Thị N 01 dây chuyền vàng, 01 đôi bông tai vàng, 02 chiếc nhẫn vàng, 01 kéo y tá, 02 áo lạnh, 01 đôi dép săm pô nam màu đen và 50 đồng tiền ngân hàng Việt Nam; tịch thu tiêu hủy 01 đôi giày bốt, 01 đôi giày bộ đội, 04 khăn mặt, 01 dao găm và 01 hộp bài tứ sắc; tịch thu 02 khẩu súng Colt 45, số súng 1775645 và 774970, 15 viên đạn, 01 quả lựu đạn giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh G - Kon Tum quản lý sử dụng; tiếp tục bảo lưu 01 áo bộ đội; 01 quần đũi; 01 chiếc ví màu nâu đã cũ; 01 chứng minh nhân dân và tiền mặt 60 đồng của X và C1 khi nào bắt được sẽ xử lý sau

- Quá trình bắt truy nã đối với X và C1, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Chế Văn T và 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Xuân H.

* Về dân sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với Vi Phước C2, Cơ quan điều tra và Tòa án đã trả lại các tài sản mà các bị can đã chiếm đoạt cho bị hại Trần Thị N. Hiện bị hại N đã chết và đại diện của bị hại không có yêu cầu gì về dân sự. Anh Phạm Quang P bị thương tích nhẹ và không có yêu cầu gì về dân sự.

2. Diễn biến tại phiên tòa:

2.1. Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố theo nội dung Cáo trạng số: 127/CT-VKSGL-P1 ngày 13 tháng 9 năm 2024, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Nguyễn Hữu X, Nguyễn Hùng C1 phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2.1.1 Về hình phạt:

+ Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Hữu X.

+ Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Hùng C1.

Đề nghị xử phạt:

  • - Bị cáo Nguyễn Hữu X từ 09 đến 10 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/3/2024.
  • - Bị cáo Nguyễn Hùng C1 từ 06 đến 07 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/3/2024.

2.1.2. Về dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại, người đại diện của bị hại không có yêu cầu về dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bị thương tích nhẹ và không có yêu cầu gì về dân sự nên đề nghị Tòa án không xem xét.

2.1.3. Về xử lý vật chứng:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là:

  • + 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Chế Văn T
  • + 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Xuân H

2.1.4. Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

2.2. Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan điều tra, truy tố và người tiến hành tố tụng của các cơ quan này đã thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Không phát sinh khiếu nại, tố cáo gì về pháp luật tố tụng.

[2] Xác định tội phạm, tội danh:

Xuất phát từ việc thiếu tiền tiêu tết mà ngày 27-12-1981, khi đang ăn cơm trưa thì Vi Phước C2, Nguyễn Hữu X và Nguyễn Hùng C1 (em của X) đã bàn bạc thống nhất chuẩn bị hung khí đến nhà bà Trần Thị N tại Buôn H, xã I, huyện A để chiếm đoạt tài sản.

Khi đi C2 mang theo 01 khẩu súng Colt 45 và 01 quả lựu đạn, X mang theo một khẩu súng Colt 45 và 01 con dao còn C1 mang theo 01 con dao. Lúc đến nhà bà N, sợ bị phát hiện các bị cáo đã dùng khăn bịt mặt. Bị cáo X dùng dao đâm một nhát vào bả vai bên trái của anh Phạm Quang P (con rể bà N) để làm anh P không thể kháng cự. Tiếp đó, các bị cáo dùng hung khí mang theo để đe dọa, uy hiếp để chiếm đoạt của bà N 01 dây chuyền vàng, 01 đôi bông tai vàng, 02 chiếc nhẫn vàng, 01 kéo y tá, 02 áo lạnh, 01 đôi dép Săm Pô và 39 đồng tiền ngân hàng Việt Nam.

Ngày 30/12/1981, các bị cáo đã bị Công an huyện A, tỉnh Gia Lai - Kon Tum khởi tố về tội “Cướp tài sản riêng của công dân”. Vào các ngày 11/01/1982 và 19/01/1982, Nguyễn Hùng C1 và Nguyễn Hữu X đã bỏ trốn khỏi nơi giam giữ. Đến ngày 10/7/1982, Cơ quan Công an tỉnh G - Kon Tum đã ra Lệnh truy nã số 302, 303/PC14-LTN đối với Nguyễn Hữu X và Nguyễn Hùng C1. Còn bị cáo Vi Phước C2 đã bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng tuyên phạt 13 năm tù về tội “Cướp tài sản riêng của công dân” và 02 năm tù về tội “Vi phạm quy tắc quản lý vũ khí, chất nổ”, tổng hợp hình phạt chung là 15 năm tù theo Bản án phúc thẩm hình sự số 396 ngày 19/11/1982.

Do vậy, đủ cơ sở để xác định bị cáo Nguyễn Hữu X và Nguyễn Hùng C1 đã phạm tội “Cướp tài sản” với tình tiết định khung “Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Xét vai trò, tính chất mức độ hành vi của từng bị cáo trong vụ án:

Hành vi của các bị cáo đã gây ra là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, việc dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật. Do đó, để đảm bảo việc giáo dục các bị cáo có ý thức chấp hành nghiêm pháp luật cũng như răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài bằng hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Đồng thời, đây còn là bài học cho những ai có ý định cướp tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác tuy bị bắt giữ nhưng vẫn cố tình bỏ trốn nhằm trốn tránh trách nhiệm của bản thân.

Xét đây là vụ án có đồng phạm, Trong đó, Nguyễn Hữu X giữ vai trò là người khởi xướng, X là người chủ động rủ C1 đi cướp tài sản, bị cáo cũng là người thực hành tích cực khi dùng dao đâm một nhát vào bả vai của anh P làm cho anh P không có khả năng kháng cự, bị cáo dùng hung khí nguy hiểm để trấn áp tinh thần làm tê liệt ý chí của bị hại nhằm lục soát, chiếm đoạt tài sản của bị hại. Bị cáo C1 là người thực hành tích cực khi tiếp nhận ý chí của X cùng X, C2 chuẩn bị hung khí đi cướp tài sản. Khi đến nhà bà N bị cáo đã ra phía trước canh gác tạo điều kiện cho X, C2 đột nhập vào nhà bị hại, sau khi vô nhà thì C1 đã lục túi xách lấy hết tiền bỏ vào túi quần.

Các bị cáo sau khi phạm tội đã bỏ trốn vào các ngày 11/01/1982 và 19/01/1982. Đến ngày 10/7/1982, Cơ quan Công an tỉnh G - Kon Tum đã ra Lệnh truy nã số 302, 303/PC14-LTN đối với các bị cáo. Thời gian truy nã kéo dài suốt 42 năm mãi đến tháng 3 năm 2024 mới bắt được các bị cáo. Việc bỏ trốn này đã gây cản trở khó khăn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

-Tình tiết tăng nặng: Bị cáo X là anh Trai rủ C1 là em của mình đi cướp tài sản vào ngày 27-12-1981 khi Cảnh lúc này mới 17 tuổi 25 ngày nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

-Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, người nhà của bị cáo Nguyễn Hữu X cung cấp một bản sao giấy chứng nhận hộ nghèo và một kỷ niệm chương của hội người cao tuổi Việt Nam, Hội đồng xét xử sơ thẩm xem xét cho bị cáo X được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5]Về hình phạt đối với các bị cáo:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo thì thấy rằng:

Đối với Nguyễn Hữu X là người giữ vai trò khởi xướng và thực hành tích cực, bị cáo còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự nên cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc mới tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Đối với bị cáo Nguyễn Hùng C1 tuy bị X rủ rê nhưng bị cáo không can ngăn mà còn là người thực hành tích cực khi lục soát chiếm đoạt 39 đồng của bị hại. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi nên khi lượng hình cho bị cáo Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào các quy định tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét áp dụng hình phạt cho bị cáo.

[6] Về dân sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với Vi Phước C2, Cơ quan điều tra và Tòa án đã trả lại các tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt cho bị hại Trần Thị N. Hiện bị hại N đã chết và đại diện của bị hại không có yêu cầu gì về dân sự. Anh Phạm Quang P bị thương tích nhẹ và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy:

  • -01 Căn cước công dân số [...] mang tên Chế Văn T
  • -01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Xuân H

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Đối với các đối tượng và những vấn đề có liên quan đến vụ án:

9.1. Đối với Vi Phước C2: C2 là người đã tham gia cùng các bị cáo Nguyễn Hữu X và Nguyễn Hùng C1 thực hiện hành vi cướp tài sản của bị hại Trần Thị N. Hành vi của C2 đã bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng tuyên phạt 13 năm tù về tội “Cướp tài sản riêng của công dân” và 02 năm tù về tội “Vi phạm quy tắc quản lý vũ khí, chất nổ”, tổng hợp hình phạt chung là 15 năm tù theo Bản án phúc thẩm hình sự số 396 ngày 19/11/1982 nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

9.2. Đối với hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép súng của Nguyễn Hữu X: Trong quá trình xét xử đối với Vi Phước C2, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai - Kon Tum và Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã tuyên tịch thu và giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh G - Kon Tum quản lý sử dụng đối với 02 khẩu súng, 15 viên đạn, 01 lựu đạn (là các vũ khí mà C2 và X sử dụng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã có công văn đề nghị Bộ chỉ huy quân sự tỉnh G cung cấp thông tin nguồn gốc, xuất xứ và hiện trạng của các vũ khí này để có cơ sở xử lý. Tại Công văn số 749/BCH-TM ngày 09/8/2024 của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh G cung cấp các khẩu súng, lựu đạn nêu trên không có trong biên chế của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G không có cơ sở để tiến hành trưng cầu giám định xác định khẩu súng mà X sử dụng có phải là vũ khí quân dụng hay không. Mặt khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã tiến hành xác minh tại các cơ quan có thẩm quyền để thu thập các tài liệu về việc bị cáo X có bị khởi tố, xử lý đối với hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép súng nêu trên hay không nhưng không có kết quả. Đến nay, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này của X đã hết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G không có cơ sở để xem xét xử lý là có căn cứ.

9.3. Đối với hành vi trốn khỏi nơi giam giữ của Nguyễn Hữu X và Nguyễn Hùng C1: Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại các cơ quan có thẩm quyền để thu thập các tài liệu liên quan đến việc khởi tố, truy nã đối với các bị cáo X và C1 về hành vi trốn khỏi nơi giam giữ nhưng không có kết quả. Đến nay, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo về hành vi này đã hết. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G không có cơ sở đê xem xét xử lý là có căn cứ.

9.4. Đối với hành vi của Nguyễn Hữu X dùng dao đâm gây thương tích cho Phạm Quang P trong quá trình thực hiện hành vi cướp tài sản: Thời điểm vụ án xảy ra không thực hiện giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với thương tích do X gây ra cho P. Đến nay, đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này của X. Mặt khác, tại thời điểm vụ việc xảy ra và hiện nay, Phạm Quang P không có yêu cầu xử lý về hình sự, dân sự. Do đó, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G không xem xét xử lý hình sự là có căn cứ.

9.5. Đối với tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là 02 nhẫn vàng, 01 đôi bông tai vàng, 01 sợi dây chuyền vàng, 01 kéo y tá, 02 áo lạnh, 01 đôi dép săm pô đã được trả lại cho bị hại N. Đến nay, bà N đã chết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã tiến hành xác minh đặc điểm các tài sản này nhưng không thu thập được các tài liệu liên quan và các bị cáo, người có liên quan cũng không cung cấp được đặc điểm các tài sản này. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để tiến hành trưng cầu giám định, định giá đối với các tài sản này.

9.6. Đối với các vật chứng tiếp tục bảo lưu theo Bản án sơ thẩm hình sự số 78 ngày 20/9/1982 và Bản án phúc thẩm hình sự số 396 ngày 19/11/1982 gồm 01 áo bộ đội, 01 quần đũi, 01 chiếc ví màu nâu đã cũ, 01 chứng minh nhân dân và tiền mặt 60 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã tiến hành xác minh nhưng đến nay hồ sơ, tài liệu liên quan không còn nên không có cơ sở để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Điều luật áp dụng:

  • + Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Hữu X.
  • + Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Hùng C1.
  • - Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015
  • - Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu X, Nguyễn Hùng C1 phạm tội “Cướp tài sản”.

3. Về hình phạt:

3.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu X 09 (chín) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/3/2024 .

3.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng C1 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/3/2024.

3.4. Về xử lý vật chứng:

Xử tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Chế Văn T do Cục Cảnh sát QLHC vê TTXH -Bộ C3 cấp ngày 03-03-2021
  • - 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Xuân H do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH -Bộ C3 cấp ngày 09-01-2023

(Toàn bộ các vật chứng nêu trên có đặc điểm cụ thể theo Biên bản giao nhận vật chứng số 143/2024 ngày 23 tháng 09 năm 2024, giữa: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh G và Cục THADS tỉnh G)

5. Về án phí: Xử buộc bị cáo Nguyễn Hữu X, Nguyễn Hùng C1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm.

Nếu người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
  • - VP CQCSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Cục THADS tỉnh Gia Lai;
  • - Trại tạm giam T20;
  • - Bị cáo; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu Tòa GĐ&NCTN, VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Tiến Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HSST-CTN ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về cướp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 35/2024/HSST-CTN
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp từ năm 1981
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger