Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HOÀNG MAI

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số 35/2024/HS-ST

Ngày 30 – 7 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Biên.

Bà Trần Thị Thanh Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trọng Sơn – Là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Đào Giang Lệ – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2024/TLST-HS, ngày 20 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024, đối với:

- Các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1992, tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Cao Thị V (đã chết); vợ: Nguyễn Thị C và có 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2024 đến ngày 25/4/2024; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  2. Đậu Xuân T1, sinh ngày 21 tháng 01 năm 1994, tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm S, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đậu Xuân S (đã chết) và bà Cao Thị H; vợ: Dương Thị Bích V1 và có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2024 đến ngày 25/4/2024; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Lê Thị Mai L, sinh năm 1982; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  2. Chị Phan Thị T2, sinh năm 1982; nơi cư trú: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  3. Chị Hồ Thị T3, sinh năm 1983; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  4. Chị Đồng Thị H1, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khối H, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  5. Chị Hoàng Thị H2, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khối H, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  6. Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1969; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  7. Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1998; nơi cư trú: Khối Á, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  8. Chị Hoàng Thị L1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Khối T phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  9. Chị Hoàng Thị M1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  10. Chị Hồ Thị V2, sinh năm 1978; nơi cư trú: Khối H, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  11. Chị Hoàng Thị T5, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khối P, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  12. Chị Lê Thị N, sinh năm 1981; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  13. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  14. Chị Phan Thị Y, sinh năm 1993; nơi cư trú: Khối P, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  15. Chị Nguyễn Thị T6, sinh năm 1981; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  16. Chị Phan Thị T7, sinh năm 1993; nơi cư trú: Khối A, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  17. Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1984; nơi cư trú: Khối P, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  18. Anh Nguyễn Đức N2, sinh năm 1997; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  19. Chị Lê Thị L3, sinh năm 1984;
  20. Chị Hoàng Thị T8, sinh năm 1977;
  21. Cùng cư trú tại: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

  22. Chị Hoàng Thị K, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khối P, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  23. Chị Phan Thị Đ1, sinh năm 1988;
  24. Chị Lê Thị X, sinh năm 1972;
  25. Cùng cư trú tại: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

  26. Chị Nguyễn Thị N3, sinh năm 2003;
  27. Chị Hoàng Thị T9, sinh năm 1977;
  28. Cùng cư trú tại: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

  29. Bà Hồ Thị P, sinh năm 1963; nơi cư trú: Khối H, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  30. Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1983; nơi cư trú: Khối H, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  31. Chị Hoàng Thị P1, sinh năm 1997;
  32. Chị Hoàng Thị N4, sinh năm 1997;
  33. Cùng cư trú tại: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

  34. Chị Hồ Thị M2, sinh năm 1999; nơi cư trú: Khối H, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  35. Chị Nguyễn Thị V3, sinh năm 1982; nơi cư trú: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  36. Chị Lê Thị T10, sinh năm 1994; nơi cư trú: Khối T phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  37. Bà Hoàng Thị L4, sinh năm 1962; nơi cư trú: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  38. Chị Nguyễn Thị L5, sinh năm 1984; nơi cư trú: Khối H, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  39. Chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1991; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  40. Chị Hoàng Thị D, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khối P, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  41. Chị Đậu Thị S1, sinh năm 1972; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  42. Chị Phan Thị H5, sinh năm 1991;
  43. Chị Hoàng Thị H6, sinh năm 1972;
  44. Cùng cư trú tại: Khối H, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

  45. Chị Lê Thị P2, sinh năm 1971; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  46. Chị Hoàng Thị H7, sinh năm 1976; nơi cư trú: Khối P, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  47. Chị Bùi Thị T11, sinh năm 1995; nơi cư trú: Khối H, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  48. Chị Lê Thị M3, sinh năm 1983; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  49. Chị Phạm Thị Đ2, sinh năm 1967; nơi cư trú: Xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  50. Chị Đặng Thị T12, sinh năm 1977; nơi cư trú: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  51. Anh Nguyễn Viết X1, sinh năm 1972;
  52. Chị Nguyễn Thị L6, sinh năm 1974;
  53. Cùng cư trú tại: K, thị trấn C, huyện Q, Nghệ An.

  54. Chị Đặng Thị P3, sinh năm 1971; nơi cư trú: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  55. Anh Nguyễn Minh S2, sinh năm 1981; nơi cư trú: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  56. Chị Đậu Thị L7, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  57. Chị Trần Thị Phương T13, sinh năm 1995; nơi cư trú: Xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
  58. Chị Hoàng Thị D1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Khối Á, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  59. Chị Trần Thị T14, sinh năm 1997; nơi cư trú: Khối Á, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  60. Chị Nguyễn Thị P4, sinh năm 1977; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  61. Chị Hồ Thị L8, sinh năm 1978; nơi cư trú: Khối H, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

(Tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 5/2023, Nguyễn Văn T biết thông tin có nhiều người dân có nhu cầu vay tiền để kinh doanh, sản xuất, buôn bán nên lên mạng internet tìm hiểu cách thức cho người khác vay tiền nhằm hưởng lợi cao. Sau đó, khoảng tháng 7/2023, T thuê Đậu Xuân T1 đi cùng T thu tiền của khách thì T1 đồng ý. Nguyễn Văn T là người bỏ tiền vốn cho vay, trực tiếp liên hệ và làm hợp đồng vay với khách hàng còn T1 thì được T thuê vào buổi chiều hàng ngày, T1 chở T đi thu tiền của khách vay, vào cuối ngày thì T1 cùng T tính toán các khoản tiền thu vào trong ngày. Hàng tháng, T trả công cho T1 tối đa số tiền 9.000.000 đồng nếu T1 làm đủ 30 ngày, nếu Thọ nghỉ ngày nào thì trừ tiền công mỗi ngày nghỉ là 300.000 đồng. Từ tháng 7/2023 đến khi bị bắt Nguyễn Văn T đã trả lương cho Đậu Xuân T1 là 56.000.000 đồng. Ban đầu, T giới thiệu cho vay tiền với một số tiểu thương buôn bán ở chợ G, huyện Q, trong đó có những người trú ở phường Q, thị xã H. Sau đó, những người này giới thiệu lại cho những người khác trú cùng phường Q có nhu cầu vay tiền để liên hệ với T.

Phương thức cho vay tiền của T và T1 như sau: Khi có người vay tiền thì sẽ liên hệ với T qua số điện thoại 0343.682.xxx hoặc qua tài khoản Zalo đăng ký bằng số điện thoại, tên “Đức Tiến”. Sau đó, T sẽ trực tiếp đến gặp người vay để xem nhà, xem giấy tờ của khách như chứng minh nhân dân, thẻ CCCD, Giấy phép lái xe..., xác định điều kiện kinh tế và thu nhập của khách và tư vấn 04 gói vay tiền gồm 5.000.000 đồng, 10.000.000 đồng, 15.000.000 đồng và 20.000.000 đồng. Sau đó, tuỳ điều kiện từng khách mà T đưa ra số tiền vay mà khách được vay, lãi suất vay, thời gian vay và phương thức thanh toán cho mỗi người vay, thống nhất xong, T cho người vay ký vào Hợp đồng cho vay vốn tiêu dùng theo mẫu T đã in sẵn. Nội dung cho vay: thời gian vay cố định đều là 40 ngày, người vay có thể tất toán hoặc đáo hạn trong khoảng thời gian trên; Mức lãi suất T nói với người là 2.500 đồng/1 triệu/1 ngày, tức là tiền lãi được chia đều hàng ngày là 2.500 đồng/1 triệu đồng tiền vay trong vòng 40 ngày; Khi cho vay thì T yêu cầu khách hàng phải trả tiền lãi trước khi làm Hợp đồng theo khoản vay tương ứng, đồng thời, T xác định 01 (một) kỳ trả tiền vay gốc và tiền lãi là 01 (một) ngày, thống nhất trong vòng 40 ngày vay, mỗi ngày người vay sẽ phải đóng số tiền =1/40 số tiền gốc, cụ thể như sau:

- Đối với gói vay 5.000.000 đồng: Số tiền lãi là 500.000 đồng được T thu trước và chia đều cho 40 ngày, mỗi ngày tiền lãi là 12.500 đồng. T lấy số tiền lãi trên trong khoản vay 5.000.000 đồng và chỉ đưa cho người vay 4.500.000 đồng. Mỗi ngày, T yêu cầu người vay phải trả số tiền 125.000 đồng (bằng 1/40 số tiền vay gộc) trong vòng 40 ngày.

- Đối với gói vay 10.000.000 đồng: Số tiền lãi là 1.000.000 đồng được T thu trước và chia đều cho 40 ngày, mỗi ngày tiền lãi là 25.000 đồng. T lấy số tiền lãi trên trong khoản vay 10.000.000 đồng và chỉ đưa cho người vay 9.000.000 đồng. Mỗi ngày, T yêu cầu người vay phải trả số tiền 250.000 đồng (bằng 1/40 số tiền vay gốc) trong vòng 40 ngày.

- Đối với gói vay 15.000.000 đồng: Số tiền lãi là 1.500.000 đồng được T thu trước và chia đều cho 40 ngày, mỗi ngày tiền lãi là 37.500 đồng. T lấy số tiền lãi trên trong khoản vay 15.000.000 đồng và chỉ đưa cho người vay 13.500.000 đồng. Mỗi ngày, T yêu cầu người vay phải trả số tiền 375.000 đồng (bằng 1/40 số tiền vay gốc) trong vòng 40 ngày.

- Đối với gói vay 20.000.000 đồng: Số tiền lãi là 2.000.000 đồng được T thu trước và chia đều cho 40 ngày, mỗi ngày tiền lãi là 50.000 đồng. T lấy số tiền lãi trên trong khoản vay 20.000.000 đồng và chỉ đưa cho người vay 18.000.000 đồng. Mỗi ngày, T yêu cầu người vay phải trả số tiền 500.000 đồng (bằng 1/40 số tiền vay gốc) trong vòng 40 ngày.

Trường hợp người vay chấp nhận việc đóng 1/40 tiền vay gốc hàng ngày trên thì T mới cho người khác vay tiền còn không đồng ý điều kiện trên thì T không cho vay. Khi cho người khác vay tiền, T lập ra vào Hợp đồng cho vay vốn tiêu dùng với mục đích để có giấy tờ xác nhận việc khách hàng vay tiền của T, đề phòng trường hợp không đòi được tiền cho vay thì có căn cứ để đòi cho đúng quy định, trong đó có ghi cụ thể số tiền vay, ngày vay, thời hạn vay và thông tin người vay là chính xác. Còn các nội dung khác trong hợp đồng như lãi suất 1.5%/tháng, phí thẩm định xét duyệt 3%, phí chăm sóc, lưu trữ bảo quản hồ sơ 3% là do T tham khảo trên mạng để viết vào nhằm hợp thức hoá các loại phí theo quy định của pháp luật chứ không ghi nội dung thực tế mà T đã trao đổi với người vay tiền, đề phòng sau này bị cơ quan chức năng kiểm tra.

Sau đó, hàng ngày vào buổi chiều tối, T cùng T1 trực tiếp đi đến nơi ở của người vay để thu tiền mặt hoặc người vay có thể chuyển khoản cho T qua số tài khoản ngân hàng M4 số: 0366006400 mang tên Nguyễn Văn T. Nếu người vay có lý do thì T cho người vay đóng tiền chậm 01 đến 02 ngày, sau đó người vay phải đóng bù, đủ tiền còn thiếu vào ngày hôm sau. Tiền gốc bắt buộc phải thu hồi hết. Nếu người vay không có tiền đóng hàng ngày nữa thì người vay có thể xin đáo hạn để vay lại, tức là người đó phải tất toán toàn bộ số tiền còn thiếu theo hợp đồng vay 40 ngày cũ, sau đó làm hợp đồng vay mới. Số tiền cần để tất toán hợp đồng cũ thì T trừ vào số tiền trong hợp đồng vay mới. Các nội dung trong hợp đồng vay mới được thực hiện như hợp đồng cũ trước đó. Nếu người vay tất toán khoản vay trước thời hạn 40 ngày thì vẫn phải chịu khoản lãi suất mà T đã lấy trước đó khi cho vay. Như vậy, T sẽ được lợi từ việc thu tiền lãi trước trong khi chưa hết 40 ngày đối với hợp đồng cũ và khi khách đáo hạn mà lập hợp đồng mới thì T lại thu được lãi của hợp đồng mới. Cứ như thế đối với tất cả người vay tiền.

Tính từ tháng 5 năm 2023 đến tháng 3 năm 2024, Nguyễn Văn T và Đậu Xuân T1 đã cho 55 người vay tiền, cụ thể như sau:

  1. Chị Lê Thị Mai L, T lưu trong danh bạ điện thoại là “Mai Ly Q”. Chị L vay của T 03 lần, lần thứ nhất vào khoảng tháng 11/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ hai vào khoảng tháng 12/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ ba vào khoảng tháng 01/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 3.000.000 đồng và đưa cho L số tiền 27.000.000 đồng. L đã trả số tiền 20.000.000 đồng đối với 02 lần vay trước và trả tiền gốc 30 ngày, số tiền 7.500.000 đồng đối với lần vay thứ ba, còn nợ T 2.500.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của L là 2.426.274 đồng.
  2. Chị Phan Thị T2, T lưu trong danh bạ điện thoại là “Thu quán C1”. Chị T2 vay của T 03 lần gồm lần thứ nhất vào tháng 10/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ hai vào tháng 12/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ ba vào ngày 03/02/2024, vay số tiền 20.000.000 đồng. T lấy lãi 4.000.000 đồng và đưa cho T2 số tiền 36.000.000 đồng. T2 đã trả số tiền 20.000.000 đồng đối với 02 lần vay trước và trả tiền gốc 27 ngày, số tiền 13.500.000 đồng đối với lần vay thứ ba, còn nợ T 6.500.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của T2 là 3.235.050 đồng
  3. Chị Hồ Thị T3, T lưu trong danh bạ là “Thuý Q.phuong”. Chị T3 vay của T 03 (ba) lần gồm lần thứ nhất vào tháng 7/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ hai vào ngày 06/10/2023, vay số tiền 15.000.000 đồng; lần thứ ba vào ngày 23/02/2024, vay số tiền 15.000.000 đồng. T lấy lãi 4.000.000 đồng và đưa cho T3 số tiền 36.000.000 đồng. T3 đã trả số tiền 25.000.000 đồng đối với 02 (hai) lần vay trước và trả tiền gốc 10 ngày, số tiền 3.750.000 đồng đối với lần vay thứ ba, còn nợ T 11.250.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của T3 là 3.235.062 đồng
  4. Chị Đồng Thị H1, T lưu trong điện thoại là “H1 lưới qp”. Chị H1 vay của T 03 (ba) lần gồm lần thứ nhất vào tháng 7/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ hai vào tháng 9/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ ba vào tháng 12/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 3.000.000 đồng và đưa cho Hằng số tiền 27.000.000 đồng. H1 đã trả hết số tiền 30.000.000 đồng đối với 03 (ba) lần vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của H1 là 2.426.274 đồng
  5. Chị Hoàng Thị H2, T lưu trong điện thoại là “Hoa Hs Q.phuong”. Chị H2 vay của T 02 (hai) lần gồm lần thứ nhất vào ngày 08/01/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ hai vào ngày 22/01/2024, vay số tiền 15.000.000 đồng. T lấy lãi 2.500.000 đồng và đưa cho H2 số tiền 22.500.000 đồng. H2 đã trả số tiền 25.000.000 đồng đối với 02 (hai) lần vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của H2 là 2.021.910 đồng
  6. Chị Hoàng Thị M, T lưu trong danh bạ điện thoại là “M 69 QPhuong". Chi Mai vay của T 02 (hai) lần gồm lần thứ nhất vào tháng 9/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ hai vào tháng 01/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 2.000.000 đồng và đưa cho M số tiền 18.000.000 đồng. M đã trả hết số tiền 20.000.000 đồng đối với 02 (hai) lần vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của M là 1.617.516 đồng
  7. Anh Nguyễn Văn T4, T lưu trong điện thoại là “T4 mận qph”. Anh T4 vay của T 01 (một) lần vào ngày 20/02/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 1.000.000 đồng và đưa cho T4 số tiền 9.000.000 đồng. T4 đã trả tiền gốc 11 ngày, số tiền 2.750.000 đồng, còn nợ T 7.250.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của T4 là 808.578 đồng
  8. Chị Hoàng Thị L1, T lưu trong điện thoại là “Lam hải qph.” Chị L1 vay của T 01 (một) lần vào ngày 17/02/2024, vay số tiền 5.000.000 đồng. T lấy lãi 500.000 đồng và đưa cho L1 số tiền 4.500.000 đồng. L1 đã trả tiền gốc 19 ngày, số tiền 2.375.000 đồng, còn nợ T 2.625.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của L1 là 404.388 đồng
  9. Chị Hoàng Thị M1, T lưu trong danh bạ là “M1 bạn sen”. Chị M1 vay của T 01 (một) lần vào ngày 25/02/2024, vay số tiền 5.000.000 đồng. T lấy lãi 500.000 đồng và đưa cho M1 số tiền 4.500.000 đồng. M1 đã trả tiền gốc 08 ngày, số tiền 1.000.000 đồng, còn nợ T 4.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của M1 là 404.388 đồng
  10. Hồ Thị V2, T lưu trong danh bạ là “Vân qp2”, “Vân Q P5”. Chị V2 vay của T 03 (ba) lần gồm lần thứ nhất vào tháng 7/2023, vay số tiền 5.000.000 đồng; lần thứ hai vào tháng 09/2023, vay số tiền 5.000.000 đồng; lần thứ ba vào tháng 11/2023, vay số tiền 5.000.000 đồng. T lấy lãi 1.500.000 đồng và đưa cho V2 số tiền 13.500.000 đồng. V2 đã trả hết số tiền 15.000.000 đồng đối với 03 (ba) lần vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của V2 là 1.212.164 đồng
  11. Chị Hoàng Thị T5, Tiến lưu trong danh bạ là “Thuỷ lưới qp.” Chị T5 vay của T 05 (năm) lần gồm từ tháng 8/2023 đến tháng 01/2024 vay 04 lần với 01 lần vay số tiền 10.000.000 đồng và 03 lần vay 15.000.000 đồng; lần thứ năm vào ngày 26/02/2024, vay số tiền 15.000.000 đồng. T lấy lãi 7.000.000 đồng và đưa cho T5 số tiền 63.000.000 đồng. T5 đã trả số tiền 55.000.000 đồng đối với 04 (bốn) lần vay trước và trả tiền gốc 05 ngày, số tiền 1.875.000 đồng đối với lần vay thứ năm, còn nợ T 13.125.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của T5 là 5.661.366 đồng
  12. Chị Lê Thị N, T lưu trong danh bạ là “N ăn sáng QPh”. Chị N vay của T 03 (ba) lần gồm lần thứ nhất vào tháng 8/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ hai vào tháng 10/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ ba vào tháng 12/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 3.000.000 đồng và đưa cho N số tiền 27.000.000 đồng. N đã trả hết số tiền 30.000.000 đồng đối với 03 (ba) lần vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của N là 2.426.274 đồng
  13. Chị Nguyễn Thị N1, T lưu trong danh bạ là “Ninh cá q.P5”. Chị N1 vay của T 03 (ba) lần gồm lần thứ nhất vào ngày 15/12/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ hai vào ngày 15/01/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ ba vào ngày 15/2/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 3.000.000 đồng và đưa cho N1 số tiền 27.000.000 đồng. N1 đã trả số tiền 20.000.000 đồng đối với 02 (hai) lần vay trước và trả tiền gốc 17 ngày, số tiền 4.250.000 đồng đối với lần vay thứ ba, còn nợ T 5.750.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của N1 là 2.426.274 đồng
  14. Chị Phan Thị Y, T lưu trong danh bạ là “Y mai qp”. Chị Y vay của T 03 (ba) lần gồm lần thứ nhất vào ngày 27/10/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ hai vào ngày 24/1/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ ba vào ngày 25/2/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 3.000.000 đồng và đưa cho Y số tiền 27.000.000 đồng. Y đã trả số tiền 20.000.000 đồng đối với 02 (hai) lần vay trước và trả tiền gốc 07 ngày, số tiền 1.750.000 đồng đối với lần vay thứ ba, còn nợ T 8.250.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của Y là 2.426.274 đồng
  15. Chị Nguyễn Thị T6 vay của T 01 (một) lần vào ngày 16/2/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 1.000.000 đồng và đưa cho T6 số tiền 9.000.000 đồng. T6 đã trả tiền gốc 15 ngày, số tiền 3.750.000 đồng, còn nợ T 6.250.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của T6 là 808.758 đồng
  16. Chị Phan Thị T7, Tiến lưu trong máy là “T7 heo qp”. Chị T7 vay của T 01 (một) lần vào ngày 24/2/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 1.000.000 đồng và đưa cho T7 số tiền 9.000.000 đồng. T7 đã trả tiền gốc 16 ngày, số tiền 4.000.000 đồng, còn nợ T 6.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của T7 là 808.758 đồng
  17. Chị Nguyễn Thị L2, T lưu trong danh bạ điện thoại là “Lương Em Khuyên”. Chị L2 vay của T 01 (một) lần vào tháng 8/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 1.000.000 đồng và đưa cho L2 số tiền 9.000.000 đồng. L2 đã trả hết số tiền 10.000.000 đồng cho T. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của L2 là 808.758 đồng
  18. Anh Nguyễn Đức N2, T lưu trong danh bạ là “Nguyên bếp qp”, trú tại phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Anh N2 vay của T 01 (một) lần vào tháng 01/2024 vay số tiền 5.000.000 đồng. T lấy lãi 500.000 đồng và đưa cho N2 số tiền 4.500.000 đồng. N2 đã trả số tiền 5.000.000 đồng cho T. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của N2 là 404.388 đồng
  19. Chị Lê Thị L3, T lưu trong danh bạ là “Lý công qp”. Chị L3 vay của T 01 (một) lần vào ngày 18/2/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 1.000.000 đồng và đưa cho L3 số tiền 9.000.000 đồng. L3 đã trả tiền gốc 13 ngày, số tiền 3.250.000 đồng, còn nợ T 6.750.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của L3 là 808.758 đồng
  20. Chị Hoàng Thị T8, T lưu trong danh bạ là “T8 ly q.P5”. Chị T8 vay của T 01 (một) lần vào tháng 11/2023 vay số tiền 5.000.000 đồng. T lấy lãi 500.000 đồng và đưa cho T8 số tiền 4.500.000 đồng. T8 đã trả tiền số tiền 5.000.000 đồng cho T. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của T8 là 404.388 đồng
  21. Chị Hoàng Thị K nhờ chị Hoàng Thị T15, sinh năm 1967, trú tại khối H, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An đứng tên vay. T lưu Hoàng Thị T15 trong danh bạ là “Trọng cá qph", Hoàng Thị K trong danh bạ là “Khuyên rèm”. Chị T15 đứng tên thay cho Hoàng Thị K vay của T 01 (một) lần vào ngày 18/10/2023 vay số tiền 5.000.000 đồng. T lấy lãi 500.000 đồng và đưa cho K số tiền 4.500.000 đồng. K đã trả tiền số tiền 5.000.000 đồng cho T. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của K là 404.388 đồng
  22. Chị Phan Thị Đ1, T lưu trong điện thoại là “Điêp vân cá”. Chị Đ1 vay của T 03 (ba) lần gồm lần thứ nhất vào ngày 17/10/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ hai vào ngày 10/12/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ ba vào ngày 17/2/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 3.000.000 đồng và đưa cho Đ1 số tiền 27.000.000 đồng. Đ1 đã trả số tiền 20.000.000 đồng đối với 02 (hai) lần vay trước và trả tiền gốc 13 ngày, số tiền 3.250.000 đồng đối với lần vay thứ ba, còn nợ T 6.750.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của Đ1 là 2.426.274 đồng
  23. Chị Lê Thị X, T lưu trong danh bạ là “Xứng Q.phuong”. Chị X đứng tên thay cho con gái là Hồ Thị M2, sinh năm 1999, trú tại khối H, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An vay của T 05 (năm) lần gồm lần thứ nhất vào ngày 17/7/2023 vay số tiền 5.000.000 đồng; lần thứ hai vào ngày 25/8/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ ba vào ngày 25/9/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ tư vào ngày 15/11/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ năm vào ngày 04/02/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 4.500.000 đồng và đưa cho X số tiền 40.500.000 đồng. Bà X đã trả số tiền 35.000.000 đồng đối với 04 (bốn) lần vay trước và trả tiền gốc 21 ngày, số tiền 5.250.000 đồng đối với lần vay thứ năm, còn nợ T số tiền 4.750.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của X là 3.639.420 đồng
  24. Chị Nguyễn Thị N3, T lưu trong danh bạ là “Ngân cảng cá”. Chị N3 vay của T 01 (một) lần vào ngày 04/10/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 1.000.000 đồng và đưa cho N3 số tiền 9.000.000 đồng. N3 đã trả hết số tiền 10.000.000 đồng đối với khoản vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của N3 là 808.758 đồng
  25. Chị Hoàng Thị T9, T lưu trong danh bạ là “T9 cá qph”. Chị T9 vay của T 02 (hai) lần, lần thứ nhất vào tháng 01/2024 vay số tiền 15.000.000 đồng; lần thứ hai vào tháng 02/2024 vay số tiền 20.000.000 đồng. T lấy lãi 3.500.000 đồng và đưa cho T9 số tiền 31.500.000 đồng. T9 đã trả số tiền 15.000.000 đồng đối với 01 (một) lần vay trước và trả tiền gốc 20 ngày, số tiền 10.000.000 đồng đối với lần vay thứ hai, còn nợ T số tiền 10.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của T9 là 2.830.686 đồng
  26. Chị Hồ Thị P, T lưu trong danh bạ điện thoại là “P cá q.P5”. Chị P vay của T 01 (một) lần vào tháng 02/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 1.000.000 đồng và đưa cho P số tiền 9.000.000 đồng. P đã trả tiền gốc 20 ngày, số tiền 5.000.000 đồng đối với khoản vay trên, còn nợ T số tiền 5.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của P là 808.758 đồng
  27. Anh Nguyễn Văn H3, T lưu trong danh bạ là “Hải Xuyến qp.”. Anh H3 vay của T 05 (năm) lần gồm 04 lần từ tháng 8/2023 đến tháng 1/2024, mỗi lần vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ năm vào tháng 02/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 5.000.000 đồng và đưa cho H3 số tiền 45.000.000 đồng. H3 đã trả số tiền 40.000.000 đồng đối với 04 (bốn) lần vay trước và trả tiền gốc 20 ngày, số tiền 5.000.000 đồng đối với lần vay thứ năm, còn nợ T số tiền 5.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của H3 là 4.043.790 đồng
  28. Chị Hoàng Thị P1, T lưu trong danh bạ là “Phượng Q P6”. Chị P1 vay của T 04 (bốn) lần gồm tháng 11/2023 đến tháng 02/2024, mỗi lần vay số tiền 5.000.000 đồng. T lấy lãi 2.000.000 đồng và đưa cho P1 số tiền 18.000.000 đồng. P1 đã trả số tiền 15.000.000 đồng đối với 03 (ba) lần vay trước và trả tiền gốc 15 ngày, số tiền 1.875.000 đồng đối với lần vay thứ tư, còn nợ T 3.125.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của P1 là 1.617.552 đồng
  29. Chị Hoàng Thị N4, T lưu trong danh bạ là “Nga diễn mỹ”. Chị N4 vay của T 01 (một) lần vào ngày 15/2/2024, vay số tiền 15.000.000 đồng. T lấy lãi 1.500.000 đồng và đưa cho N4 số tiền 13.500.000 đồng. N4 đã trả số tiền trả tiền gốc 15 ngày, số tiền 5.625.000 đồng đối với lần vay trên, còn nợ T 9.375.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của T2 là 1.213.152 đồng
  30. Chị Hồ Thị M2, T lưu trong danh bạ là “Mai Qphuong”. Chị M2 vay của T 08 (tám) lần gồm lần thứ nhất vào ngày 21/6/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng, sau đó lần thứ hai đáo hạn vào ngày 17/7/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ ba đáo hạn vào ngày 14/08/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ tư đáo hạn vào ngày 10/09/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ năm đáo hạn vào ngày 08/10/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ sáu đáo hạn vào ngày 05/11/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ bảy đáo hạn vào ngày 01/12/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ tám đáo hạn vào ngày 29/12/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 8.000.000 đồng và đưa cho M2 số tiền 72.000.000 đồng. M2 đã trả số tiền 80.000.000 đồng đối với 08 (tám) lần vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của M2 là 6.470.064 đồng
  31. Chị Nguyễn Thị V3, T lưu trong danh bạ là “Vân cá q.Qhương”. Chị V3 vay của T 01 (một) lần vào ngày 19/01/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 1.000.000 đồng và đưa cho V3 số tiền 9.000.000 đồng. V3 đã trả hết số tiền 10.000.000 đồng trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của V3 là 808.758 đồng
  32. Chị Lê Thị T10, T lưu trong danh bạ là “Thu cá q.phuong”. Chị T10 vay của T 02 (hai) lần, lần thứ nhất vào tháng 8 năm 2023 vay số tiền 10.000.000 đồng; lần thứ hai vào ngày 28/01/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 2.000.000 đồng và đưa cho T10 số tiền 18.000.000 đồng. T10 đã trả số tiền 10.000.000 đồng đối với lần vay thứ nhất và trả tiền gốc 22 ngày, số tiền 5.500.000 đồng đối với lần vay thứ hai, còn nợ T 4.500.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của T10 là 1.617.516 đồng
  33. Chị Hoàng Thị L4, T lưu trong danh bạ là “Liên 62 qp”. Chị L4 vay của T 01 (một) lần, lần thứ nhất vào tháng 7 năm 2023 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 1.000.000 đồng và đưa cho L4 số tiền 9.000.000 đồng. L4 đã trả số tiền 10.000.000 đồng đối với khoản vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của L4 là 808.758 đồng
  34. Chị Nguyễn Thị L5, T lưu trong danh bạ là “Lan cá q.P5”. Chị L5 vay của T 02 (hai) lần, lần thứ nhất vào ngày 15/9/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng, lần thứ hai vào ngày 01/11/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 2.000.000 đồng và đưa cho L5 số tiền 18.000.000 đồng. L5 đã trả hết số tiền 20.000.000 đồng đối với 02 (hai) lần vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của L5 là 1.617.516 đồng
  35. Chị Nguyễn Thị H4, T lưu trong danh bạ là “Hằng 91 q.P5”. Chị H4 vay của T 04 (bốn) lần, lần thứ nhất vào ngày 19/10/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng, lần thứ hai vào ngày 18/11/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng, lần thứ ba vào ngày 09/01/2024 vay số tiền 5.000.000 đồng, lần thứ tư vào ngày 23/01/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 3.500.000 đồng và đưa cho Hằng số tiền 31.500.000 đồng. H4 đã trả số tiền 25.000.000 đồng đối với 03 (ba) lần vay trên và trả tiền gốc 34 ngày, số tiền 8.500.000 đồng đối với lần vay thứ tư, còn nợ T 1.500.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của H4 là 2.830.662 đồng
  36. Chị Hoàng Thị D, T lưu trong danh bạ là “Diễn cá qphương”. Chị D vay của T 04 (bốn) lần, lần thứ nhất vào tháng 7/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng, lần thứ hai vào tháng 9/2023 vay số tiền 15.000.000 đồng, lần thứ ba vào tháng 11/2023 vay số tiền 15.000.000 đồng, lần thứ tư vào tháng 01/2024 vay số tiền 15.000.000 đồng. T lấy lãi 5.500.000 đồng và đưa cho D số tiền 49.500.000 đồng. D đã trả số tiền 55.000.000 đồng đối với 04 (bốn) lần vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của D là 4.448.214 đồng
  37. Chị Đậu Thị S1, T lưu trong danh bạ là “Sâm ngân qp”. Chị S1 vay của T 01 (một) lần vào ngày 26/12/2023 vay số tiền 5.000.000 đồng. T lấy lãi 500.000 đồng và đưa cho S1 số tiền 4.500.000 đồng. S1 đã trả hết số tiền 5.000.000 đồng đối với khoản vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của S1 là 404.388 đồng
  38. Chị Phan Thị H5, T lưu trong danh bạ là “Hoa nhà hàng Q1”. Chị H5 vay của T 04 (bốn) lần, lần thứ nhất vào tháng 8/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng, lần thứ hai vào tháng 10/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng, lần thứ ba vào tháng 12/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng, lần thứ tư vào ngày 03/02/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 4.000.000 đồng và đưa cho H5 số tiền 36.000.000 đồng. H5 đã trả số tiền 30.000.000 đồng đối với 03 (ba) lần vay trước và trả tiền gốc 32 ngày, số tiền 8.000.000 đồng đối với lần vay thứ tư, còn nợ T 2.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của H5 là 3.235.032 đồng
  39. Chị Hoàng Thị H6, T lưu trong danh bạ là “Hiệp mẹ H4”. Chị H6 vay của T 02 (hai) lần, lần thứ nhất vào tháng 11/2023 vay số tiền 5.000.000 đồng, lần thứ hai vào ngày 22/02/2024 vay số tiền 5.000.000 đồng. T lấy lãi 1.000.000 đồng và đưa cho H6 số tiền 9.000.000 đồng. H6 đã trả số tiền 5.000.000 đồng đối với 01 (một) lần vay trước và trả tiền gốc 10 ngày, số tiền 1.250.000 đồng đối với lần vay thứ hai, còn nợ T số tiền 3.750.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của H6 là 808.776 đồng
  40. Chị Lê Thị P2, T lưu trong danh bạ là “Phương An S3”. Chị P2 vay của T 05 (năm) lần từ tháng 8/2023 đến tháng 3/2024, mỗi lần vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 5.000.000 đồng và đưa cho P2 số tiền 45.000.000 đồng. P2 đã trả số tiền 40.000.000 đồng đối với 04 (bốn) lần vay trước và trả tiền gốc 28 ngày, số tiền 7.000.000 đồng đối với lần vay thứ năm, còn nợ T 3.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của H7 là 4.403.790 đồng
  41. Chị Hoàng Thị H7, Tiến lưu trong danh bạ là “Hà châu qp”. Chị H7 vay của T 04 (bốn) lần từ tháng 8/2023 đến tháng 1/2024, mỗi lần vay số tiền 10.000.000 đồng và 01 (một) lần vào ngày 20/02/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 5.000.000 đồng và đưa cho H7 số tiền 45.000.000 đồng. H7 đã trả số tiền 40.000.000 đồng đối với 04 (bốn) lần vay trước và trả tiền gốc 14 ngày, số tiền 3.500.000 đồng đối với lần vay thứ năm, còn nợ T 6.500.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của H7 là 4.043.790 đồng
  42. Chị Bùi Thị T11, T lưu trong danh bạ là “Thu Bạn đoá”. Chị T11 vay của T 05 (năm) lần từ tháng 5/2023 đến tháng 12/2023, mỗi lần vay số tiền 10.000.000 đồng và 01 (một) lần vào ngày 23/01/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 6.000.000 đồng và đưa cho T11 số tiền 54.000.000 đồng. T11 đã trả số tiền 50.000.000 đồng đối với 05 (năm) lần vay trước và trả tiền gốc 38 ngày, số tiền 9.500.000 đồng đối với lần vay thứ sáu, còn nợ T 500.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của T11 là 4.852.548 đồng
  43. Chị Lê Thị M3, vay của T 01 (một) lần ngày 13/02/2024 vay số tiền 5.000.000 đồng. T lấy lãi 500.000 đồng và đưa cho M3 số tiền 4.500.000 đồng. Môn đã trả tiền gốc 20 ngày, số tiền 2.500.000 đồng đối với khoản vay trên, còn nợ T 2.500.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của M3 là 404.388 đồng
  44. Chị Phạm Thị Đ2, T lưu trong danh bạ là “Đồng văn”. Chị Đ2 vay của T 02 (hai) lần từ tháng 12/2023 đến tháng 2/2024, mỗi lần vay số tiền 20.000.000 đồng; 01 (một) lần vào ngày 22/2/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 5.000.000 đồng và đưa cho Đ2 số tiền 45.000.000 đồng. Đ2 đã trả số tiền 40.000.000 đồng đối với 02 (hai) lần vay trước và trả tiền gốc 10 ngày, số tiền 2.500.000 đồng đối với lần vay thứ ba, còn nợ T số tiền 7.500.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của Đ2 là 4.043.826 đồng
  45. Chị Đặng Thị T12, T lưu trong danh bạ là “Thuận C.giat”, Chị T12 vay của T 02 (hai) lần từ tháng 12/2023 đến tháng 2/2024, mỗi lần vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 2.000.000 đồng và đưa cho T12 số tiền 18.000.000 đồng. T12 đã trả hết số tiền 20.000.000 đồng đối với 02 (hai) lần vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của T12 là 1.617.516 đồng
  46. Anh Nguyễn Viết X1, T lưu trong danh bạ là “Xuân Taxi”. Anh X1 vay của T 01 (một) lần vào tháng 7/2023 số tiền 10.000.000 đồng và sau đó vay của T 03 (ba) lần, mỗi lần vay số tiền 20.000.000 đồng. T lấy lãi 7.000.000 đồng và đưa cho X1 số tiền 63.000.000 đồng. X1 đã trả số tiền 70.000.000 đồng đối với 04 (bốn) lần vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của X1 là 5.661.360 đồng
  47. Chị Nguyễn Thị L6, T lưu trong danh bạ là “Luận C.giao”. Chị L6 vay của T 05 (năm) lần vào tháng 7/2023 đến tháng 2/2024, mỗi lần vay số tiền 10.000.000 đồng và 01 (một) lần vào ngày 22/2/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 6.000.000 đồng và đưa cho L6 số tiền 54.000.000 đồng. L6 đã trả số tiền 50.000.000 đồng đối với 05 (năm) lần vay trước và trả tiền gốc 17 ngày, số tiền 4.250.000 đồng đối với lần vay thứ sáu, còn nợ T 5.750.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của L6 là 4.852.548 đồng
  48. Chị Đặng Thị P3, T lưu trong danh bạ là “Phương dép”. Chị P3 vay của T 01 (một) lần vào ngày 05/2/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 1.000.000 đồng và đưa cho P3 số tiền 9.000.000 đồng. P3 đã trả tiền gốc 30 ngày, số tiền 7.500.000 đồng đối với khoản vay trên, còn nợ T số tiền 2.500.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của P3 là 808.758 đồng
  49. Anh Nguyễn Minh S2, T lưu trong danh bạ là “Sơn Giat”. Anh S2 vay của T 01 (một) lần vào tháng 10/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng, sau đó 01 (một) lần vào tháng 11/2023 vay số tiền 20.000.000 đồng và 01 (một) lần vào ngày 05/02/2024 vay số tiền 20.000.000 đồng. T lấy lãi 5.000.000 đồng và đưa cho S2 số tiền 45.000.000 đồng. S2 đã trả số tiền 30.000.000 đồng đối với 02 (hai) lần vay trước và trả tiền gốc 20 ngày, số tiền 10.000.000 đồng đối với lần vay thứ ba, còn nợ T số tiền 10.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của S2 là 4.043.826 đồng
  50. Chị Đậu Thị L7, T lưu trong danh bạ là “Luận q.V4”. Chị L7 vay của T 01 (một) lần vào ngày 27/02/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 1.000.000 đồng và đưa cho L7 số tiền 9.000.000 đồng. L7 đã trả tiền gốc 06 ngày, số tiền 1.500.000 đồng, còn nợ T số tiền 8.500.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của L7 là 808.758 đồng
  51. Chị Trần Thị Phương T13, T lưu trong danh bạ là “Thảo Q.Bảng”. Chị T13 vay của T 01 (một) lần vào ngày 08/5/2023 vay số tiền 15.000.000 đồng. T lấy lãi 1.500.000 đồng và đưa cho T13 số tiền 13.500.000 đồng. T13 trả số tiền 15.000.000 đồng đối với khoản vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của T13 là 1.213.152 đồng
  52. Chị Hoàng Thị D1, Tiến lưu trong danh bạ là “Dung mạnh”. Chị D1 vay của T 01 (một) lần vào ngày 08/5/2023 vay số tiền 15.000.000 đồng. T lấy lãi 1.500.000 đồng và đưa cho D1 số tiền 13.500.000 đồng. D1 đã trả tiền gốc 13 ngày, số tiền 4.875.000 đồng, còn nợ T số tiền 10.125.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của D1 là 1.213.152 đồng
  53. Chị Trần Thị T14, Tiến lưu trong danh bạ là “Trinh bạn giang”. Chị T14 vay của T 01 (một) lần vào tháng 01/2024 vay số tiền 5.000.000 đồng. T lấy lãi 500.000 đồng và đưa cho T14 số tiền 4.500.000 đồng. Trinh trả số tiền 5.000.000 đồng đối với khoản vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của T14 là 404.388 đồng
  54. Chị Nguyễn Thị P4 vay của T 01 (một) lần vào tháng 12/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng, sau đó 01 (một) lần vào tháng 01/2024 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 2.000.000 đồng và đưa cho P4 số tiền 18.000.000 đồng. P4 đã trả số tiền 10.000.000 đồng đối với 01 (một) lần vay trước và trả tiền gốc 24 ngày, số tiền 6.000.000 đồng đối với lần vay thứ hai, còn nợ T số tiền 4.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của P4 là 1.617.516 đồng
  55. Chị Hồ Thị L8, vay của T 01 (một) lần vào tháng 11/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng, sau đó 01 (một) lần vào tháng 12/2023 vay số tiền 10.000.000 đồng. T lấy lãi 2.000.000 đồng và đưa cho L8 số tiền 18.000.000 đồng. Lựu trả số tiền 20.000.000 đồng đối với 02 (hai) khoản vay trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính khoản vay của L8 là 1.617.516 đồng

Tổng số tiền T và T1 cho 55 người trên vay là 1.445.000.000 đồng gồm: 19 lần khoản vay 5.000.000 đồng; 96 lần khoản vay 10.000.000 đồng; 14 lần khoản vay 15.000.000 đồng; 09 lần khoản vay 20.000.000 đồng.

Ngày 07/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã H gửi Công văn số 101/CQĐT-ĐTTH về việc đề nghị Ngân hàng N5 – Chi nhánh tỉnh N cung cấp thông tin liên quan đến mức lãi suất mà Nguyễn Văn T đã cho người khác vay tiền nêu trên. Đến ngày 08/3/2024, Ngân hàng N5 Chi nhánh tỉnh N có Công văn phúc đáp số 256/NGA-THKS xác định: Mức lãi suất cho vay thực tế của Nguyễn Văn T đang áp dụng với khách hàng gấp 4,56 lần đến 182,5 lần so với mức lãi suất quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 (20%/năm), trong đó, kể từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 40, mức lãi suất Nguyễn Văn T thu hàng ngày của khách gấp 5,07 đến 182,5 lần, tương đương mức lãi suất từ 101,39%/năm đến 365%/năm, đã vượt gấp hơn 5 lần so với mức lãi suất cho phép tối đa theo quy định.

Như vậy xác định được: Đối với các khoản vay 5.000.000 đồng, 10.000.000 đồng, 15.000.000 đồng, 20.000.000 đồng thì số tiền T và T1 được hưởng lợi bất chính từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 40 lần lượt là 404.388 đồng, 808.758 đồng, 1.213.152 đồng và 1.617.534 đồng.

Tổng số tiền hưởng lợi bất chính của Nguyễn Văn T và Đậu Xuân T1 là: (404.388 đồng x 19 lần vay + (808.758 đồng x 96 lần vay) + (1.213.152 đồng x 14 lần vay) + (1.617.534 đồng x 09 lần vay) = 7.683.372 đồng + 77.640.768 đồng + 16.984.128 đồng + 14.557.806 đồng = 116.866.074 đồng.

Ngày 03/3/2024, chị Phan Thị T7 có đơn trình báo về hành vi cho vay nặng lãi của T, T1. Ngày 04/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T và Đậu Xuân T1 về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, đồng thời đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T. Mở rộng điều tra vụ án, quá trình giữ khẩn cấp các đối tượng và khám xét khẩn cấp, Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Văn T 01 (một) điện thoại di động và 06 (sáu) tờ hợp đồng vay tiền giữa T và người vay.

Cáo trạng số 25/CT-VKS-HS ngày 16/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Văn T và Đậu Xuân T1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng; xử phạt Đậu Xuân T1 mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

Về Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền cho vay (tiền gốc) 1.445.000.000 đồng và số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 16.344.410 đồng. Đây là phương tiện phạm tội và số tiền phát sinh từ phạm tội, do đó đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu (bằng hình thức truy thu) tại bị cáo Nguyễn Văn T và những người liên quan, nộp Ngân sách Nhà nước.

- Đối với khoản tiền thu lợi bất chính 116.866.074 đồng và số tiền 11.289.516 đồng vượt trên 20%/năm nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm mà người phạm tội thu lợi bất chính của người vay nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo Nguyễn Văn T trả lại cho người vay.

- Đối với số tiền 56.000.000 đồng, T trả công cho T1. Đây là số tiền phát sinh từ tội phạm mà có. Vì vậy, đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, kiểu máy TA-1272, màu Đen, bên trong lắp thẻ sim có số thuê bao: 0343.682.764, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn T.

Về án phí:

Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý với nội dung bản cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, không có ý kiến gì.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Xét thấy sự vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3]. Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, xét lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan; phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng cuối tháng 7/2023, Nguyễn Văn T thuê Đậu Xuân T1 cùng thực hiện hành vi cho 55 người thuộc khu vực thị xã H, huyện Q, huyện D, tỉnh Nghệ An, gồm: Phan Thị Y, Lê Thị X, Hồ Thị V2, Nguyễn Thị V3, Hoàng Thị K, Phan Thị T7, Hoàng Thị T5, Hồ Thị T3, Phan Thị T2, Lê Thị T10, Hoàng Thị T9, Nguyễn Văn T4, Hoàng Thị T8, Hồ Thị P, Hoàng Thị P1, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Đức N2, Lê Thị N, Hoàng Thị M, Lê Thị Mai L, Hoàng Thị L4, Nguyễn Thị L5, Hoàng Thị L1, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Thị H4, Hoàng Thị D, Nguyễn Thị N3, Đậu Thị S1, Nguyễn Thị L2, Phan Thị H5, Hoàng Thị H6, Đồng Thị H1, Hoàng Thị H2, Hoàng Thị M1, Nguyễn Thị T6, Lê Thị L3, Phan Thị Đ1, Hồ Thị M2, Lê Thị P2, Hồ Thị L8, Hoàng Thị H7, Nguyễn Thị P4, Bùi Thị T11, Lê Thị M3, Nguyễn Thị L6, Đặng Thị T12, Đặng Thị P3, Nguyễn Minh S2, Nguyễn Viết X1, Phạm Thị Đ2, Hoàng Thị N4, Trần Thị T14, Hoàng Thị D1, Đậu Thị L7, Trần Thị Phương T13 vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, đối với các khoản tiền vay lần lượt là 5.000.000 đồng, 10.000.000 đồng, 15.000.000 đồng và 20.000.000 đồng trong thời gian 40 ngày; tính tiền lãi từng ngày đều bằng nhau và bằng cách tính: Ngày thứ nhất là 2.500 đồng/1 triệu/1 ngày, được trừ trước số tiền lãi khi giao tiền gốc cho người vay. Số tiền vay gốc sẽ giảm dần theo ngày trong khi tiền lãi các bị cáo thu của người vay giữ nguyên như ngày thứ nhất nên lãi suất sẽ tăng dần theo từng ngày, từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 40, mức lãi suất các bị cáo thu hàng ngày của người vay gấp từ 5,07 đến 182,5 lần, tương đương mức lãi suất từ 101,39%/năm đến 3650%/năm, đã vượt gấp hơn 5 lần so với mức lãi suất cho phép tối đa theo quy định (20%/năm). Tổng số tiền hưởng lợi bất chính của Nguyễn Văn T và Đậu Xuân T1 là 116.866.074 đồng. Nguyễn Văn T đã trả công cho Đậu Xuân T1 số tiền 56.000.000 đồng. Với hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"; tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Về hình phạt chính: Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính; ảnh hưởng nghiêm trọng đến các giao dịch dân sự; hành vi của bị cáo đã đẩy gia đình người vay tiền vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình trong dư luận. Bản thân các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi, coi thường pháp luật, bất chấp đạo lý để thực hiện hành vi phạm tội. Việc khởi tố, điều tra, truy tố và đưa các bị cáo ra xét xử là hết sức cần thiết nhằm xử lý, ngăn chặn hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đang có xu hướng gia tăng trên địa bàn thị xã H nói riêng và cả nước nói chung.

Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, do đó khi quyết định hình phạt, cần phải xem xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất tham gia và mức độ tham gia của từng người đồng phạm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng người đồng phạm.

Bị cáo Nguyễn Văn T là người trực tiếp liên hệ với người vay; sử dụng số tiền của mình để cho vay và quy định mức lãi suất cho vay và thu lợi bất chính từ các khoản vay. Vì vậy, bị cáo phải chịu vai trò chính trong vụ án.

Bị cáo Đậu Xuân T1 biết hành vi cho vay lãi nặng của Nguyễn Văn T là vi phạm pháp luật nhưng vẫn tích cực giúp sức cho bị cáo tiến trong việc thu tiền lãi suất và được hưởng thù lao từ bị cáo T; vì vậy, bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi của mình.

Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Xét các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; nhân thân tốt; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo

[6]. Về Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền cho vay (tiền gốc) 1.445.000.000 đồng và số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 16.344.410 đồng. Xét thấy đây là phương tiện phạm tội và số tiền phát sinh từ phạm tội mà có, do đó cần tịch thu (bằng hình thức truy thu), nộp ngân sách Nhà nước. Do người vay đã trả số tiền vay (tiền gốc) cho Nguyễn Văn T 1.255.875.000 đồng và số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 16.344.410 đồng; vì vậy cần tịch thu toàn bộ số tiền này từ bị cáo Nguyễn Văn T để nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền cho vay (tiền gốc) 189.125.000 đồng, do người vay chưa trả cho bị cáo T, nên cần tịch thu từ những người vay để nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với khoản tiền thu lợi bất chính 116.866.074 đồng và số tiền 11.289.516 đồng vượt trên 20%/năm nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Tổng 128.155.590 đồng. Xét thấy đây là khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm mà người phạm tội thu lợi bất chính của người vay và người vay không sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp, nên cần buộc bị cáo Nguyễn Văn T trả lại cho người vay.

- Đối với số tiền 56.000.000 đồng bị cáo T trả tiền công cho T1. Xét đây là số tiền do phạm tội mà có. Vì vậy, cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.

[5]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Đậu Xuân T1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 tháng tù; nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 30 tháng 7 năm 2024. Xử phạt bị cáo Đậu Xuân T1 6 tháng tù; nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 30 tháng 7 năm 2024.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Đậu Xuân T1 cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
  4. - Tịch thu (bằng hình thức truy thu), nộp ngân sách Nhà nước tại bị cáo Nguyễn Văn T tổng số tiền 1.272.219.410 đồng.

    - Tịch thu (bằng hình thức truy thu), nộp ngân sách Nhà nước tại bị cáo Đậu Xuân T1 số tiền 56.000.000 đồng.

    - Tịch thu (bằng hình thức truy thu), nộp ngân sách Nhà nước tại những người liên quan tổng số tiền 189.125.000 đồng; cụ thể:

    1. Chị Lê Thị Mai L: 2.500.000 đồng.
    2. ChịPhạm Thị Thu: 6.500.000 đồng.
    3. Chị Hồ Thị T3: 11.250.000 đồng.
    4. Anh Nguyễn Văn T4: 7.250.000 đồng.
    5. Chị Hoàng Thị L9: 2.625.000 đồng.
    6. Chị Hoàng Thị M1: 4.000.000 đồng.
    7. Chị Hoàng Thị T5: 13.125.000 đồng.
    8. Chị Phan Thị Y: 8.250.000 đồng.
    9. Chị Nguyễn Thị T6: 6.250.000 đồng.
    10. Chị Phan Thị T7: 6.000.000 đồng.
    11. Chị Lê Thị L3: 6.750.000 đồng.
    12. Chị Phan Thị Đ1: 6.750.000 đồng.
    13. Chị Lê Thị X: 4.570.000 đồng.
    14. Chị Hoàng Thị T9: 10.000.000 đồng.
    15. Chị Hồ Thị P: 5.000.000 đồng.
    16. Anh Nguyễn Văn H3: 5.000.000 đồng.
    17. Chị Hoàng Thị P1: 3.125.000 đồng.
    18. Chị Hoàng Thị N4: 9.375.000 đồng.
    19. Chị Lê Thị T10: 4.500.000 đồng.
    20. Chị Nguyễn Thị H4: 1.500.000 đồng.
    21. Chị Hoàng Thị H6: 3.750.000 đồng
    22. Chị Lê Thị P2: 3.000.000 đồng.
    23. Chị Hoàng Thị H7: 6.500.000 đồng.
    24. Chị Bùi Thị T11: 500.000 đồng.
    25. Chị Lê Thị M3: 2.500.000 đồng.
    26. Chị Phạm Thị Đ2: 7.500.000 đồng.
    27. Chị Nguyễn Thị L6: 5.750.000 đồng.
    28. Chị Đặng Thị P3: 2.500.000 đồng.
    29. Anh Nguyễn Minh S2: 10.000.000 đồng.
    30. Chị Đậu Thị L7: 8.500.000 đồng.
    31. Chị Hoàng Thị D1: 10.125.000 đồng.
    32. Chị Nguyễn Thị P4: 4.000.000 đồng.

    - Buộc bị cáo Nguyễn Văn T trả lại cho những người liên quan tổng số tiền 128.155.590 đồng (trong đó có 116.866.074 đồng thu lợi bất chính và 11.289.516 đồng số tiền vượt trên 20%/năm nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự); cụ thể:

    1. Chị Lê Thị Mai L, số tiền 2.662.992 đồng.
    2. Chị Phan Thị T2, số tiền 3.550.670 đồng
    3. Chị Hồ Thị T3, số tiền 3.550.680 đồng.
    4. Chị Đồng Thị H1, số tiền 2.662.992 đồng.
    5. Chị Hoàng Thị H2, số tiền 2.219.172 đồng.
    6. Chị Hoàng Thị M, số tiền 1.775.328 đồng.
    7. Anh Nguyễn Văn T4, số tiền 887.664 đồng.
    8. Chị Hoàng Thị L1, số tiền 443.840 đồng.
    9. Chị Hoàng Thị M1, số tiền 443.840 đồng.
    10. Chị Hồ Thị V2, số tiền 1.331.520 đồng.
    11. Chị Hoàng Thị T5, số tiền 6.213.696 đồng.
    12. Chị Lê Thị N, số tiền 2.662.992 đồng.
    13. Chị Nguyễn Thị N1, số tiền 2.662.992 đồng.
    14. Chị Phan Thị Y, số tiền 2.662.992 đồng.
    15. Chị Nguyễn Thị T6, số tiền 887.664 đồng.
    16. Chị Phan Thị T7, số tiền 887.664 đồng.
    17. Chị Nguyễn Thị L2, số tiền 887.664 đồng.
    18. Anh Nguyễn Đức N2, số tiền 443.840 đồng.
    19. Chị Lê Thị L3, số tiền 887.664 đồng.
    20. Chị Hoàng Thị T8, số tiền 443.840 đồng.
    21. Chị Hoàng Thị K, số tiền 443.840 đồng.
    22. Chị Phan Thị Đ1, số tiền 2.662.992 đồng.
    23. Chị Lê Thị X, số tiền 3.994.496 đồng.
    24. Chị Nguyễn Thị N3, số tiền 887.664 đồng.
    25. Chị Hoàng Thị T9, số tiền 3.106.850 đồng.
    26. Bà Hồ Thị P, số tiền 887.664 đồng.
    27. Anh Nguyễn Văn H3, số tiền 4.438.320 đồng.
    28. Chị Hoàng Thị P1, số tiền 1.775.360 đồng.
    29. Chị Hoàng Thị N4, số tiền 1.331.508 đồng.
    30. Chị Hồ Thị M2, số tiền 7.101.312 đồng.
    31. Chị Nguyễn Thị V3, số tiền 887.664 đồng.
    32. Chị Lê Thị T10, số tiền 1.775.328 đồng.
    33. Bà Hoàng Thị L4, số tiền 887.664 đồng.
    34. Chị Nguyễn Thị L5, số tiền 1.775.328 đồng.
    35. Chị Nguyễn Thị H4, số tiền 2.994.500 đồng.
    36. Chị Hoàng Thị D, số tiền 4.882.188 đồng.
    37. Chị Đậu Thị S1, số tiền 443.840 đồng.
    38. Chị Phan Thị H5, số tiền 3.550.656 đồng.
    39. Chị Hoàng Thị H6, số tiền 887.680 đồng.
    40. Chị Lê Thị P2, số tiền 4.438.320 đồng.
    41. Chị Hoàng Thị H7, số tiền 4.438.320 đồng.
    42. Chị Bùi Thị T11, số tiền 5.325.984 đồng.
    43. Chị Lê Thị M3, số tiền 443.840 đồng.
    44. Chị Phạm Thị Đ2, số tiền 4.438.348 đồng.
    45. Chị Đặng Thị T12, số tiền 1.775.328 đồng.
    46. Anh Nguyễn Viết X1, số tiền 6.213.690 đồng.
    47. Chị Nguyễn Thị L6, số tiền 5.325.984 đồng.
    48. Chị Đặng Thị P3, số tiền 887.664 đồng.
    49. Anh Nguyễn Minh S2, số tiền 4.438.348 đồng.
    50. Chị Đậu Thị L7, số tiền 887.664 đồng.
    51. Chị Trần Thị Phương T13, số tiền 1.331.508 đồng.
    52. Chị Hoàng Thị D1, số tiền 1.331.508 đồng.
    53. Chị Trần Thị T14, số tiền 443.840 đồng.
    54. Chị Nguyễn Thị P4, số tiền 1.775.342 đồng.
    55. Chị Hồ Thị L8, số tiền 1.775.342 đồng.

    Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia, kiểu máy TA-1272, màu Đen, bên trong lắp thẻ sim có số thuê bao: 0343.682.764, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn T.

    (Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An và Chi Cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An).

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T, Đậu Xuân T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Hoàng Mai;
  • - Bị cáo; Người có QL,NVLQ;
  • - Chi cục THADS thị xã Hoàng Mai;
  • - Công an thị xã Hoàng Mai;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội "cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger