TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST Ngày 30-7-2024 Về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA,
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1 Bà Nguyễn Thị Thọ
2 Bà Vũ Thị Phương Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Lê Anh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Như Đ – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng L, sinh năm 1990.Địa chỉ:A H, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.Có mặt
- - Bị đơn: Ông Võ Văn L1, sinh năm 1990.Địa chỉ:ấp P, xã L,thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25-3-2024, trong qúa trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Hồng L trình bày:
- - Về hôn nhân: Bà L và ông Võ Văn L1 là vợ chồng, chung sống vợ chồng từ năm 2013, chung sống tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn năm 2013 tại UBND phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Trong thời gian chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, hay cãi nhau, không có sự chia sẻ, ông L1 không lo chu cấp tiền nuôi dưỡng 02 con, một mình bà L phải lo hết, ông L1 có tính gia trưởng, bà L muốn mua bán gì thì phải do ông L1 quyết định, ông L1 có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Bà L không còn tình cảm với ông L1. Hai vợ chồng đã ly thân khoảng 5 năm. Do vậy cuộc sống chung không có hạnh phúc, cả hai không tự giải quyết được, tình cảm vợ chồng không còn. Bà L đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn ông L1.
- · Về con chung: Bà L và ông L1 có 02 con chung tên Võ Nguyễn Quỳnh L2, sinh ngày 01/11/2015 và Võ Nguyễn Tuấn L3, sinh ngày 01/5/2019.Cháu L2 đang học lớp 3, trường Nguyễn Thanh Đ1, thành phố B, cháu L3 đang lớp mầm trường mầm non S ở thành phố B. Cháu L2 và L3 đang ở, sinh sống cùng bà L. Ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu giải quyết
* Bị đơn ông Võ Văn L1 đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án, thông báo triệu tập tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, ông L1 không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án làm việc tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa. Do vậy, ông L1 không có lời trình bày.
*Tòa án đã tiến hành xác minh tại ấp P, xã L, thành phố B nơi ông Võ Văn L1 cư trú, sinh sống theo đó: Ông L1 và bà L có sinh sống tại ấp P, xã L, thành phố B, hiện hai vợ chồng đã ly thân, không còn chung sống, hai người con vẫn sống chung với ông L1. Về mâu thuẫn thì không biết rõ lý do vì không có đơn hòa giải tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, tiến hành thu thập đủ chứng cứ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do, đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn
- - Về việc giải quyết vụ án: Vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, không tự giải quyết được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L. Về con chung: Giao cho bà L được quyền nuôi dưỡng 02 con chung là Võ
2
Nguyễn Quỳnh L2 và Võ Nguyễn Tuấn L3. Không giải quyết về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung. Bà L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng, thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Hồng L có đơn khởi kiện xin ly hôn, yêu cầu giải quyết việc nuôi con. Hiện nay ông Võ Văn L1 đang cư trú tại thành phố B. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Ông Võ Văn L1 là bị đơn đã được triệp tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Võ Văn L1.
[2] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Hồng L và ông Võ Văn L1 chung sống vợ chồng từ năm 2013, chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2013 tại UBND phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Do vậy, hôn nhân giữa bà L và ông L1 là hợp pháp.
Về mâu thuẫn: Sau khi cưới vợ chồng bà L và ông L1 sinh sống tại ấp P,xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa . Đến khoảng năm 2019 do mâu thuẫn vợ chồng không còn sống chung. Theo bà L cung cấp cuộc sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, ông L1 không chu cấp nuôi dưỡng con, có tính gia trưởng, bà L nghi ngờ ông L1 có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác.Tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, hai bên không tự giải quyết được. Tòa án đã thông báo thụ lý, triệu tập ông L1 đến Tòa án để cung cấp lời khai, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông L1 không chấp hành, như vậy cho thấy ông L1 đã từ bỏ quyền tố tụng của mình.Tòa án đã xác minh tại ấp P, xã L nơi vợ chồng bà L và ông L1 sinh sống cho thấy hiện nay vợ chồng bà L và ông L1 đã ly thân, không còn chung sống với nhau. Từ những cơ sở trên cho thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông L1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà Nguyễn Hồng L được ly hôn ông Võ Văn L1
3
[3] Về con chung: Theo bà L và các trích lục giấy khai sinh do bà L cung cấp cho thấy bà L và ông L1 có 02 con chung là tên Võ Nguyễn Quỳnh L2, sinh ngày 01/11/2015 và Võ Nguyễn Tuấn L3, sinh ngày 01/5/2019. Hiện nay hai con đang ở cùng bà L.Cháu L2 học lớp 3, cháu Lâm h mầm non.
Xét thấy: Bà L đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con, cháu L3 còn nhỏ tuổi, cháu L2 có nguyện vọng ở cùng mẹ, cuộc sống ổn định, bảo đảm về mọi mặt. ông L1 không có ý kiến về việc nuôi dưỡng chăm sóc con sau khi ly hôn. Bà L có đủ điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung. Do vậy, để không làm xáo trộn cuộc sống bình thường của các cháu,giao cho bà L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu L2 và cháu L3. Bà L không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
[5] Về án phí: Bà L phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng L đối với ông Võ Văn L1 về việc ly hôn, nuôi con.
- Về hôn nhân:Bà Nguyễn Hồng L được ly hôn ông Võ Văn L1
- Về con chung:Giao cho bà Nguyễn Hồng L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Võ Nguyễn Quỳnh L2, sinh ngày 01/11/2015 và Võ Nguyễn Tuấn L3, sinh ngày 01/5/2019. Các đương sự không có yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
4
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Hồng L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng); nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ(Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0001089, ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa. Bà L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Anh |
5
Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng Loan ly hôn Võ Văn Lộc
