Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 5 - 2024

V/v: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đồng Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Hoài Bảo.
  2. Ông Nguyễn Trọng Di.

- Thư ký phiên tòa: Ông Văn Hồng Lễ, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 30/5/2024, tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 62/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Viết C, sinh năm 1976. (Có mặt)

    Địa chỉ: Khu phố a, thị trấn L1, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1979. (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Khu phố a, thị trấn L1, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai của đương sự và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: Ông Nguyễn Viết C và bà Nguyễn Thị Thu L tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L1, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38 ngày 21/8/2000. Thời gian đầu còn hạnh phúc nhưng bắt đầu từ năm 2021, ông C và bà L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau do bất đồng quan điểm sống về chuyện tiền bạc, ông C đã nhiều lần khuyên nhưng bà L vẫn không sửa đổi, dẫn đến tình cảm vợ chồng sứt mẻ, không thể chung sống với nhau được nữa. Ông C và bà L không còn chung sống như vợ chồng hơn một năm nay và không còn quan tâm đến nhau nữa, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • + Về hôn nhân: Ông Nguyễn Viết C ly hôn bà Nguyễn Thị Thu L.

  • + Về con chung: Quá trình chung sống, ông C và bà L có 02 con chung là Nguyễn Viết D sinh năm 2001 (đã thành niên), Nguyễn Viết L2 sinh ngày 03/7/2007, hiện nay ông C đang trực tiếp nuôi dưỡng, ông C yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Viết L2, không yêu cầu bà L phải cấp dưỡng cho con.

  • + Về tài sản chung: Không có.

  • + Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 13/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã tiến hành xác minh tại khu phố a, thị trấn L1, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, kết quả như sau: Bà Nguyễn Thị Thu L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương, hiện nay có mặt tại địa phương. Về tình trạng hôn nhân: Do mâu thuẫn vợ chồng nên hiện nay bà L, ông C không còn chung sống với nhau nữa; Bà L và ông C có 02 con chung là Nguyễn Viết D đã thành niên, Nguyễn Viết L2 hiện ông C đang nuôi dưỡng.

Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bà L không có mặt tại tòa để trình bày ý kiến.

Vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn không có mặt tại Tòa án.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong:

Về việc tuân theo pháp luật, thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký tiến hành tố tụng đúng quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Viết D sinh năm 2001 (đã thành niên), Nguyễn Viết L2 sinh ngày 03/7/2007, đề nghị giao con chung Nguyễn Viết L2 cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng cho con, tài sản chung và nợ chung: Không ai yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Viết C khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị Thu L và tranh chấp nuôi con chung do đó Tòa án thấy rằng đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thị trấn L1, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Viết C và bà Nguyễn Thị Thu L tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L1, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận nên hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của nguyên đơn và biên bản xác minh tại địa phương thì sau khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng thì ông C bà L không còn chung sống như vợ chồng hơn 01 năm nay và không còn quan tâm đến nhau nữa, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông C yêu cầu ly hôn bà L. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà L đến giải quyết nhưng bà L không chấp hành. Như vậy tình trạng hôn nhân của ông C và bà L đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự và ổn định cuộc sống cho các bên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

[3] Về con chung: Ông C và bà L có 02 con chung là Nguyễn Viết D sinh năm 2001 (đã thành niên), Nguyễn Viết L2 sinh ngày 03/7/2007, ông C yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy bà L không đến tòa để trình bày ý kiến, con chung Nguyễn Viết L2 cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở với ông C, nên giao con chung Nguyễn Viết L2 cho ông C tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

[4] Về cấp dưỡng cho con, tài sản chung và nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông Nguyễn Viết C phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

  • - Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

  • - điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho ông Nguyễn Viết C được ly hôn bà Nguyễn Thị Thu L.

  2. Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Viết D sinh năm 2001 (đã thành niên), Nguyễn Viết L2 sinh ngày 03/7/2007. Giao con chung Nguyễn Viết L2 cho ông Nguyễn Viết C trực tiếp nuôi dưỡng.

    Bà Nguyễn Thị Thu L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí:

    Ông Nguyễn Viết C là nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006585 ngày 20/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong. Ông Nguyễn Viết C đã nộp đủ án phí.

  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;

  • - VKSND huyện Tuy Phong;

  • - Chi cục THADS huyện Tuy Phong;

  • - UBND tt.Liên Hương, huyện Tuy Phong

  • (CNKH số 38 ngày 21/8/2000);

  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đồng Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger