TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2023/HS-ST
Ngày 28/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Luân
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Văn Tuyên và Ông Lý Văn Thâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hoàn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2023/TLST-HS, ngày 06 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện đối với bị cáo:
Hoàng Văn P, T gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 02 năm 1997 tại huyện N, tỉnh Bắc Kạn; HKTT: Thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Chỗ ở hiện nay: Khu tái định cư P, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn C và bà Triệu Thị H; Có vợ là Vương Thị V; con: 01 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 11/5/2023 Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định số 02/2023/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn P, thời hạn chấp hành 12 tháng tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Kạn. P đã chấp hành từ ngày 31/5/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Thị X, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B ( có mặt)
- Bị hại:
- + Bà Chu Thị L, sinh năm 1961( Vắng mặt);
Trú tại: thôn C, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. - + Bà Phan Thị T1, sinh năm 1961( Vắng mặt khi HĐXX tuyên án);
Trú tại: thôn P, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. - + Bà Hoàng Thị B, sinh năm 1963( Vắng mặt);
Trú tại: thôn K, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn
Chỗ ở hiện nay: Khu tái định cư P, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. - + Cháu Đặng Bảo V1, sinh năm 2014( Vắng mặt);
Người đại diện theo pháp luật của bị hại Đặng Bảo V1: Chị Bùi Thị V2, sinh năm 1997 ( mẹ cháu V1) ( Vắng mặt);
Trú tại thôn K, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn - + Chị Bùi Thị V2, sinh năm 1997 ( Vắng mặt);
Trú tại: thôn K, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Đặng Tiến T2, sinh năm 1964( Vắng mặt);
Trú tại: thôn K, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn
Chỗ ở hiện nay: Khu tái định cư P, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. - + Ông Nguyễn Anh V3, sinh năm 1957( Vắng mặt);
Trú tại: tổ N, thị trấn Y ,huyện N, tỉnh Bắc Kạn. - + Ông Đào Văn N, sinh năm 1983( Vắng mặt);
HKTT: Xóm G, K, Đ, Thái Nguyên.
Tạm trú tại: tổ N, thị trấn Y,huyện N, tỉnh Bắc Kạn - + Anh Lâm Văn Q, sinh năm 1980 ( Vắng mặt);;
Trú tại: thôn C, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn - + Anh Hoàng Văn V4, sinh năm 1991( Vắng mặt);;
Trú tại: thôn K, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn
Chỗ ở hiện nay: Khu tái định cư P, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. - + Anh Đặng Văn N1, sinh năm 1976 ( Vắng mặt);
Trú tại: thôn K, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn
Chỗ ở hiện nay: Khu tái định cư P, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. - + Bà Triệu Thị H, sinh năm 1977( Có mặt);
- + Chị Vương Thị V, sinh năm 2001 ( Có mặt);
Đều trú tại: thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn
Chỗ ở hiện nay: Khu tái định cư P, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Căn cứ tố giác về tội phạm của: Bà Chu Thị L, sinh năm 1961, trú tại thôn C, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn và ông Đặng Tiến T2, sinh năm 1964, trú tại thôn K, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (chỗ ở hiện nay: Khu tái định cư P, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn), tố giác về việc bị mất tài sản.
Sau khi nhận được các tố giác về tội phạm của bà Chu Thị L, ông Đặng Tiến T2, Cơ quan canh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành tiếp nhận tài liệu, thu thập các lời khai xác định người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại xưởng băm gỗ của bà Chu Thị L và tại gia đình ông Đặng Tiến T2 là Hoàng Văn P, sinh năm 1997, trú tại Thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (nơi ở hiện tại khu tái định cư P, xã V, huyện N) cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng cuối tháng 4 năm 2023 Hoàng Văn P đến nhà anh Hoàng Văn V4, sinh năm 1991, trú tại thôn K, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (nơi ở hiện tại Khu tái định cư P, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn) mượn của anh V4 01 chiếc mỏ lết bằng kim loại, đến khoảng 21 giờ ngày hôm sau P một mình đi bộ và lội qua sông đến xưởng băm gỗ của bà Chu Thị L đặt tại thôn C, xã V, huyện N mục đích để trộm sắt để bán lấy tiền. Khi đến xưởng băm gỗ P quan sát thấy trạm biến thế đã cắt điện hoàn toàn, nên P trèo lên bậc thang gắn với cột điện thì thấy phần nắp mặt máy biến áp điện đã bị tháo các ốc vít nên P dùng tay cậy phần mặt máy lên thấy bên trong thùng có nhiều dầu, mỡ và nhiều linh kiện khó tháo nên đậy lại nắp máy biến thế rồi quay về nhà. Đến khoảng 21 giờ ngày sau hôm, P một mình cầm theo chiếc mỏ lết mượn của anh V4 tiếp tục đi đến khu vực trạm biến áp của bà L mà đêm hôm trước P đã trèo lên, Phúc cậy mở mặt máy biến áp loại 250KVA-34/0,4KV thấy phía bên trong bên dưới mặt máy còn 4 con ốc được bắt vít để giữ mặt máy chưa tháo nên P cậy phần mặt máy lên, cho mỏ lết vào bên trong vặn 4 con ốc ra thì mặt máy biến áp được tháo rời, phía trên mặt máy biến áp có gắn một bình dầu phụ, P dùng mỏ lết tháo bình dầu phụ ra bỏ lại, P nhấc lấy phần mặt máy thả xuống dưới đất sau đó P kéo qua sông để ở bãi ngô cạnh bờ sông. Hôm sau, khoảng 17 giờ 30 phút, P mượn xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius biển kiểm sát 97B1- 60.420 của anh Đặng Văn N1, sinh năm 1976, trú tại khu tái định cư P, xã V, điều khiển xe đến chỗ để chiếc mặt máy biến áp hôm trước lấy trộm được của bà L, P dùng xe mô tô chở mặt máy biến áp đến bán cho quán thu mua sắt vụn của anh Đào Văn N, sinh năm 1983 tạm trú tại tổ N, thị trấn Y, huyện N, được số tiền 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Lần thứ hai: Khoảng 21 giờ, ngày 11/5/2023 (cánh khoảng 10 ngày, sau ngày trộm nắp máy biến áp nêu trên) P tiếp tục cầm theo chiếc mỏ lết mượn của anh V4 một mình đi bộ đến xưởng băm gỗ của bà Chu Thị L để tìm tháo trộm sắt ở các bộ phận khác nhau của chiếc máy trong xưởng để bán lấy tiền gồm: Tại một đầu máy bóc vỏ cây có lắp bộ hộp số giảm tốc, P dùng mỏ lết đem theo tháo các ốc vít ở hộp số giảm tốc, sau khi tháo hết các ốc ra, P kéo để xuống bên dưới đất, do hộp số giảm tốc có nhiều bộ phận, nhiều linh kiện nặng nên P lấy được một nửa vỏ hộp số và 01 bánh răng có gắn trục và một vòng bi, P vận chuyển hai chuyến qua sông giấu ở bãi ngô xong P đi về nhà. Ngày hôm sau khoảng 10 giờ 00 phút P mượn máy cày của anh Lâm Văn Q, sinh năm 1980, trú tại thôn C, xã V đi ra vị trí cất giấu tài sản trộm được từ hôm trước, đưa lên máy cày rồi chở xuống tiếp tục bán cho quán thu mua sắt vụn của anh Đào Văn N được số tiền 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng).
Lần Thứ ba: Đến khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 12/5/2023, P lại tiếp tục một mình đi đến xưởng băm gỗ của bà L đến vị trí hôm trước đã tháo được một số bộ phận của hộp số nhưng chưa lấy hết, P kéo lấy các bộ phận còn lại, vận chuyển qua sông giấu ở bãi ngô gần bờ sông rồi đi về nhà ngủ. Sáng hôm sau, khoảng 10 giờ ngày 13/5/2023 P mượn xe mô tô ba bánh của anh Hoàng Văn V4, sinh năm 1991, trú tại khu tái định cư P, xã V, P đi ra chỗ cất giấu các đồ vật lấy trộm được từ tối hôm trước, đưa lên thùng xe rồi chở đến thị trấn Y tiếp tục bán cho quán thu mua sắt vụn của anh Đào Văn N được số tiền 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Lần thứ tư: Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/5/2023 P sang nhà anh V4 mượn một chiếc búa tạ cùng chiếc mỏ lết P mượn trước đó cho vào 01 chiếc nải rồi một mình tiếp tục sang xưởng gỗ băm của bà L với mục đích tháo trộm các thiết bị máy móc còn lại. Tuy nhiên khi đang thực hiện hành vi kéo được 02 nắp bảo vệ của máy băm gỗ lên miệng hầm để lấy đi bán thì thấy có người soi đèn pin, biết bị phát hiện, P bỏ lại 02 nắp máy băm gỗ này lại và trốn vào bãi ngô sau đó đi xuống bờ sông rồi đi về nhà.
Lần Thứ 5: Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 15/5/2023 P thấy nhà ông Đặng Tiến T2 sinh năm 1966, sát ngay với nhà P ở khu tái định cư P, xã V không có người ở nhà nên P đi qua đường giữa nhà P và nhà ông T2, bước qua hàng rào lưới B40 cao 90cm, P đi vào cửa bếp, kéo hai cánh cửa bếp hở ra thấy có then cài ngang bên trong nên thò ngón tay vào gạt, đẩy chiếc then ngang sang một bên thì mở được cửa ra, P đi vào trong nhà lục tìm tài sản, P đi vào buồng ngủ của chị Bùi Thị V2 sinh năm 1997 (con dâu ông T2), lục tìm ở tủ thấy ở ngăn dưới cùng của tủ bị khóa nên P đi xuống bếp của ông T2 lấy một con dao nhọn treo trên vách tường bếp, P dùng mũi dao cậy cánh cửa tủ bật ra, P thấy hai con lợn bằng sứ, kiểm tra thấy một con lợn sứ màu đỏ có tiền bên trong nên P cầm con lợn sứ có tiền đi ra ngoài theo đường cũ, P trả con dao lại vị trí cũ rồi đi ra và đóng lại cửa bếp như cũ, P đem con lợn sứ vừa lấy trộm được về nhà, đem xuống bếp đập vỡ ra, Phúc đếm được số tiền 1.110.000đ (một triệu một trăm mười nghìn đồng), các mảnh vỡ của con lợn P cho vào túi nilon màu đen bỏ vào thùng rác để ở bếp, còn số tiền 1.110.000₫ P mua ma túy Heroine với một người Phúc không quen biết về sử dụng hết.
Lần thứ sáu: Đến khoảng 22 giờ ngày 15/5/2023 P thấy nhà ông Đặng Tiến T2 không có ai ở, P lại tiếp tục đi theo đường cũ vào nhà ông T2 theo cửa bếp mà buổi chiều P đã vào trước đó, vào trong bếp P đến vị trí để dao trên vách tường bếp cầm lấy một con dao nhọn và đi lên nhà, P đến chiếc tủ gỗ kê ở sát tường ở gian nhà chính, thấy có ngăn tủ đang khóa P dùng tay kéo cậy cánh tủ thì mở ra được, thấy có một con lợn sứ màu xanh, kiểm tra thấy có tiền bên trong nên P cầm lấy đi xuống bếp, P để con dao lại vị trí cũ, quan sát thấy có chiếc tủ gỗ ở bên trái cửa bếp, mở cửa tủ không thấy khóa, P lục tìm thì thấy một sợi dây chuyền bạc và một bộ xà tích bằng bạc để trong túi ni lon có lẫn quần áo treo trong ngăn tủ, P lấy sợ dây chuyền bạc và bộ xà tích cùng con lợn sứ rồi đi ra khỏi nhà, P đóng lại cửa bếp như cũ rồi đi về nhà, đập con lợn sứ vỡ, Phúc đếm được số tiền 915.000đ (chín trăm mười năm nghìn đồng). Các mảnh vỡ của con lợn sứ P cho vào túi ni lon màu hồng và để vào trong nhà vệ sinh phía sau nhà P. Đối với sợi dây chuyền và bộ X1 thì khoảng 12 giờ 30 phút ngày 16/5/2023 P đem đi bán ở cửa hàng vàng bạc của ông Nguyễn Anh V3 tại tổ N, thị trấn Y, huyện N được số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Đối với con lợn màu xanh bên trong có chứa số tiền 915.000đ (chín trăm mười năm nghìn đồng) là tiền của cháu Đặng Bảo V1, sinh năm 2014 là cháu của ông Đặng Tiến T2 do cháu V1 còn nhỏ nên được bà Hoàng Thị B là vợ ông T2 cất giữ hộ, sau đó bà B nhờ ông T2 cất giữ. Đối với sợi dây chuyền và bộ X1 chủ sở hữu là của bà Hoàng Thị B.
Sau khi tiếp nhận vụ việc Cơ quan Công an đã xác minh tạm giữ được vật chứng, đồ vật liên quan của vụ án gồm: 01 chiếc búa tạ; 01 khối kim loại hình trụ tròn có đường kính 5,9cm, 1 đầu có gắn Puly kim loại đường kính 20cm, P1 có 3 rãnh, trên trục kim loại có gắn 2 vòng bi kim loại, mỗi vòng bi có đường kính 10,7cm, bản rộng vòng bi 2,7cm, toàn bộ khối kim loại nặng 18,2kg; 01 khối kim loại hình trụ có đường kính 5,9cm, 02 đầu trụ kim loại có gắn 02 vòng bi mỗi vòng bi kim loại có đường kính 10,7cm, bản rộng vòng bi 2,7cm, trên thân trụ kim loại có rãnh kim loại nổi cao 1cm, dài 9cm, trên thân trụ kim loại có gắn 01 bánh răng có đường kính 23,5cm. Toàn bộ khối kim loại nặng 18kg; 01 khối kim loại hình trụ rỗng, đường kính trụ 11,5cm, cao 13cm, một đầu trụ có gắn miếng kim loại hình tròn có đường kính 18,7cm, dày 1,5cm, trên mặt miếng kim loại có 6 lỗ cách đều, đường kính lỗ 1,7cm. Khối kim loại nặng 13,8kg; 01 khối kim loại hình trụ dài 40cm, một đầu thân trụ có gắn 01 vòng bi đường kính 15cm, bản rộng vòng bi 3,5cm, trên thân trục tiếp giáp với vòng bi có gắn 01 bánh răng đường kính 33cm, bản rộng bánh răng 8cm, phần trụ còn lại phân chia thành 3 đoạn có đường kính lần lượt là 7,3cm, 6,7cm, 6,2cm. Khối kim loại nặng 41kg; 01 vòng bi kim loại đường kính 15cm, bản rộng vòng bi 3,5cm, nặng 2,2kg; 01 khối kim loại không rõ hình dạng, mặt ngoài màu sơn xanh, bị bong tróc và dính chất màu đen, khối lượng 60kg, dài 73cm, rộng 29cm, lòng sâu nhất 16,7cm, rộng 16,5cm, thành rộng 6cm, trên thành có các lỗ có đường kính 1,5cm, 2 bên thành có 03 cặp nửa hình tròn đối xứng nhau, sâu xuống 2 bên thành, nửa cặp hình tròn thứ nhất đường kính 15cm, 2 nửa cặp hình tròn thứ 2 đường kính 10,9cm; 01 khối kim loại không rõ hình dạng, mặt ngoài màu sơn xanh, bị bong tróc và dính chất màu đen, khối lượng 65,8kg, dài 73cm, rộng 29cm, một mặt của khối kim loại có miếng kim loại hình chữ nhật kích thước 47cmx39,5cm, dày 2,5cm, cách mép miếng kim loại 2cm ở 2 bên trên tấm kim loại có 04 lỗ có đường kính 1,5cm, khối kim loại có rãnh sâu 17,5cm, lòng rãnh rộng 16,7cm, mặt thành 2 bên rộng 6cm, trên thành có các lỗ có đường kính 1,5cm, 2 bên thành có 03 cặp nửa hình tròn đối xứng nhau, sâu xuống 2 bên thành, nửa cặp hình tròn thứ nhất đường kính 15cm, 2 nửa cặp hình tròn thứ 2 đường kính 10,9cm. Một đầu của khối kim loại có buộc sợi dây thừng màu trắng xỏ vào lỗ trên khối kim loại; 01 túi ni lon màu đen bên trong có nhiều mảnh vỡ bằng sứ một mặt màu trắng, một mặt màu đỏ, có nhiều kích thước khác nhau, nhiều mảnh vỡ vụn, mảnh to nhất có kích thước 17,7cm x 15cm; 01 túi ni lon màu hồng, bên trong có nhiều mảnh vỡ bằng sứ một mặt màu trắng, một mặt màu xanh, có nhiều kích thước khác nhau, nhiều mảnh vỡ vụn, mảnh to nhất có kích thước 17,5cm x 12,7cm; 01 chiếc mỏ lết bằng kim loại màu trắng, dài 37cm, trên mỏ lết một mặt có ghi chữ FORGED STEEL, một mặt có ghi 15-375mm; 01 dao nhọn màu đen, dài 36cm, cán dài 11cm, kim loại hình tròn gắn liền với lưỡi dao, dao 1 lưỡi sắc có đầu nhọn, đo phần rộng nhất của bản dao 4,6cm; 01 chiếc túi vải màu đen có quai đeo bằng vải ở hai bên thân túi và số tiền 88.000đ; 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc; 01 bộ xà tích bằng kim loại màu trắng. Ngày 21/5/2023 Công an xã V đã bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N.
Các ngày 26, 31 tháng 5 năm 2023 Cơ quan điều tra Công an huyện N đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm hiện trường đều phù hợp với lời khai của P, các bị hại về vị trí địa điểm P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại xưởng băm gỗ bà Chu Thị L và tại gia đình ông Đặng Tiến T2.
Ngày 15/6/2023 V6 Bộ C1 kết luận: 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc, chế tác kiểu 05 mắt xích tròn nối cách đều với 01 mắt xích dẹt khuyết ở giữa, trên dây chuyền treo 02 chiếc khuyên tai chế tác kiểu vành khuyên đều bằng kim loại màu trắng bạc, mỗi khuyên tai đều treo 01 mặt hình trái tim gắn 01 viên vật liệu màu đỏ và 07 viên vật liệu không màu, có tổng khối lượng 15,25gam (tính cả các viên vật liệu). Trong đó: Các mắt xích tròn đều là bạc, hàm lượng trung bình bạc 98.87%, Các mắt xích dẹt và phần kim loại của 02 chiếc khuyên tai đều là hợp kim bạc, đồng, kẽm, hàm lượng trung bình bạc 91,69%, đồng 4,09%, kẽm 4,22%; 01 bộ xà tích bằng kim loại màu trắng bạc gồm: 02 đoạn chế tác kiểu các mắt xích nối với nhau, một đầu dây lồng chung một vòng tròn nhỏ, đầu còn lại lồng chung vòng tròn to, treo 01 đồng xu có các chữ, số “10 CENT” lồng các vòng tròn nhỏ treo 01 thanh dài có 1 đầu tròn, 01 thanh dài có 1 đầu dẹt, 01 thanh dài có 1 đầu lõm, có tổng khối lượng 26,75gam. Trong đó: 02 sợi và các vòng tròn nhỏ đều là hợp kim của bạc, đồng, hàm lượng trung bình bạc 71,55%, đồng 28,45%, 01 đồng xu là hợp kim của bạc, đồng, hàm lượng bạc 60,36%, đồng 39.64%, 01 vòng tròn to là hợp kim của bạc, đồng, kẽm; hàm lượng bạc: 60,80%, đồng: 34,74%, kẽm: 4,46%, 03 thanh dài đều là hợp kim của bạc, đồng, kẽm; hàm lượng trung bình bạc: 50,11%, Đ, kẽm: 2,66%.
Các ngày 27/6 03/7, 22/8/2023 HĐĐGTS trong tố tụng hình sự huyện N kết luận các tài sản tại thời điểm Hoàng Văn P trộm cắp có giá trị như sau: 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc và 01 bộ xà tích bằng kim loại màu trắng bạc, có tổng khối lượng là 42 gam tương đương với 11,2 chỉ có giá trị 739.000đ ; 01 bộ hộp số giảm tốc của máy bóc vỏ có giá trị 3.276.000đ, 01 mặt bích khớp nối của hộp số giảm tốc với quả lô máy bóc vỏ có giá trị 546.000đ, nắp trên của máy băm có giá trị 2.730.000đ; Mặt máy biến áp 250kVA-34/0,4kV có giá trị: 2.730.000₫
Tại Cơ quan điều tra Hoàng Văn P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khai báo về hành vi trộm cắp tài sản của bà Chu Thị L khi chưa bị Cơ quan Công an phát hiện và các lần trộm cắp khác.
Vật chứng, đồ vật tạm giữ:
- + 01 chiếc búa tạ, có tổng chiều dài 76cm, cán bằng gỗ tròn có đường kính 4cm, dài 71cm, phần đầu búa bằng kim loại hình trụ dài 13cm, rộng 6cm, dày 6cm, màu nâu đen. Được niêm phong bằng cách dán giấy niêm phong trên giấy niêm phong có chữ kí của các thành phần tham gia và 03 dấu đỏ hình tròn, dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện N.
- + 01 chiếc mỏ lết bằng kim loại màu trắng, dài 37cm, trên mỏ lết một mặt có ghi chữ FORGED STEEL, một mặt có ghi 15-375mm.
- + 01 chiếc túi vải màu đen có quai đeo bằng vải ở hai bên thân túi.
- + 01 khối kim loại hình trụ tròn có đường kính 5,9cm, 1 đầu có gắn Puly kim loại đường kính 20cm, P1 có 3 rãnh, trên trục kim loại có gắn 2 vòng bi kim loại, mỗi vòng bi có đường kính 10,7cm, bản rộng vòng bi 2,7cm, toàn bộ khối kim loại nặng 18,2kg. Kí hiệu 01.
- + 01 khối kim loại hình trụ có đường kính 5,9cm, 02 đầu trụ kim loại có gắn 02 vòng bi mỗi vòng bi kim loại có đường kính 10,7cm, bản rộng vòng bi 2,7cm, trên thân trụ kim loại có rãnh kim loại nổi cao 1cm, dài 9cm, trên thân trụ kim loại có gắn 01 bánh răng có đường kính 23,5cm. Toàn bộ khối kim loại nặng 18kg. Kí hiệu 02.
- + 01 (một) khối kim loại hình trụ rỗng, đường kính trụ 11,5cm, cao 13cm, một đầu trụ có gắn miếng kim loại hình tròn có đường kính 18,7cm, dày 1,5cm, trên mặt miếng kim loại có 6 lỗ cách đều, đường kính lỗ 1,7cm. Khối kim loại nặng 13,8kg. Kí hiệu 03.
- + 01 khối kim loại hình trụ dài 40cm, một đầu thân trụ có gắn 01 vòng bi đường kính 15cm, bản rộng vòng bi 3,5cm, trên thân trục tiếp giáp với vòng bi có gắn 01 bánh răng đường kính 33cm, bản rộng bánh răng 8cm, phần trụ còn lại phân chia thành 3 đoạn có đường kính lần lượt là 7,3cm, 6,7cm, 6,2cm. Khối kim loại nặng 41kg. Kí hiệu 04.
- + 01 vòng bi kim loại đường kính 15cm, bản rộng vòng bi 3,5cm, nặng 2,2kg. Kí hiệu 05.
- + 01 khối kim loại không rõ hình dạng, mặt ngoài màu sơn xanh, bị bong tróc và dính chất màu đen, khối lượng 60kg, dài 73cm, rộng 29cm, lòng sâu nhất 16,7cm, rộng 16,5cm, thành rộng 6cm, trên thành có các lỗ có đường kính 1,5cm, 2 bên thành có 03 cặp nửa hình tròn đối xứng nhau, sâu xuống 2 bên thành, nửa cặp hình tròn thứ nhất đường kính 15cm, 2 nửa cặp hình tròn thứ 2 đường kính 10,9cm. Kí hiệu 06.
- + 01 khối kim loại không rõ hình dạng, mặt ngoài màu sơn xanh, bị bong tróc và dính chất màu đen, khối lượng 65,8kg, dài 73cm, rộng 29cm, một mặt của khối kim loại có miếng kim loại hình chữ nhật kích thước 47cmx39,5cm, dày 2,5cm, cách mép miếng kim loại 2cm ở 2 bên trên tấm kim loại có 04 lỗ có đường kính 1,5cm, khối kim loại có rãnh sâu 17,5cm, lòng rãnh rộng 16,7cm, mặt thành 2 bên rộng 6cm, trên thành có các lỗ có đường kính 1,5cm, 2 bên thành có 03 cặp nửa hình tròn đối xứng nhau, sâu xuống 2 bên thành, nửa cặp hình tròn thứ nhất đường kính 15cm, 2 nửa cặp hình tròn thứ 2 đường kính 10,9cm. Một đầu của khối kim loại có buộc sợi dây thừng màu trắng sỏ vào lỗ trên khối kim loại. Kí hiệu 07.
- + 01 túi ni lon màu đen bên trong có nhiều mảnh vỡ bằng sứ một mặt màu trắng, một mặt màu đỏ, có nhiều kích thước khác nhau, nhiều mảnh vỡ vụn, mảnh to nhất có kích thước 17,7cm x 15cm.
- + 01 túi ni lon màu hồng, bên trong có nhiều mảnh vỡ bằng sứ một mặt màu trắng, một mặt màu xanh, có nhiều kích thước khác nhau, nhiều mảnh vỡ vụn, mảnh to nhất có kích thước 17,5cm x 12,7cm.
- + 01 dao nhọn màu đen, dài 36cm, cán dài 11cm, kim loại hình tròn gắn liền với lưỡi dao, dao 1 lưỡi sắc có đầu nhọn, đo phần rộng nhất của bản dao 4,6cm.
- + Số tiền: 88.000₫ bao gồm các tờ tiền có mệnh giá: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đ; 01 tờ tiền mệnh giá 2.000đ; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đ; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000đ; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000đ. Được để trong túi niêm phong kí hiệu PS3A 097740 (túi do Bộ C1 cấp), một mặt của túi niêm phong ghi thông tin vụ án, có chữ kí của các thành phần tham gia, một mặt tại mép dán của túi có dán giấy niêm phong chuyên dụng.
- + 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc, chế tác kiểu 05 mắt xích tròn nối cách đều với 01 mắt xích dẹt khuyết ở giữa, trên dây chuyền treo 02 chiếc khuyên tai chế tác kiểu vành khuyên đều bằng kim loại màu trắng bạc, mỗi khuyên tai đều treo 01 mặt hình trái tim gắn 01 viên vật liệu màu đỏ và 07 viên vật liệu không màu có tổng khối lượng 15,19 gam (mười năm phẩy mười chín gam, tính cả viên vật liệu); 01 bộ xà tích bằng kim loại màu trắng gồm: 02 đoạn chế tác kiểu các mắt xích nối với nhau, một đầu dây lồng chung một vòng tròn nhỏ, đầu còn lại lồng chung vòng tròn to, treo 01 đồng xu có các chữ, số “10 CENT” lồng các vòng tròn nhỏ treo 01 thanh dài có một đầu tròn, 01 thanh dài có một đầu dẹt, 01 thanh dài có một đầu lõm có tổng khối lượng 26,59 gam. Được niêm phong 01 phong bì số 4271/KL-KTHS.
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS-NR ngày 05/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, truy tố Hoàng Văn P về: "Tội trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- - Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng án treo.
- - Người bào chữa cho bị cáo, bà Đỗ Thị X nêu ý kiến: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa và sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, đề nghị HĐXX : áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, r, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo từ 06 đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, miễn nộp án phí cho bị cáo theo quy định của Pháp luật.
- - Bị hại bà Chu Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt trong đơn nêu đã đứng ra nhận số tiền 2.730.000,đ. Còn lại những tài sản hiện đang bị tạm giữ trong vụ án yêu cầu được lấy lại. Bà Chu Thị L xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Bị hại bà Phan Thị T1 nêu ý kiến những tài sản hiện đang bị tạm giữ trong vụ án không có yêu cầu gì. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Bị hại bà Hoàng Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt trong đơn nêu đối với 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc; 01 bộ xà tích bằng kim loại màu trắng là của bà B và bà yêu cầu được lấy lại, ngoài ra không có ý kiến gì thêm. Đối với số tiền trong con lợn của cháu Đặng Bảo V1 đã nhận lại không có ý kiến gì.
- - Bị hại chị Bùi Thị V2 có đơn xin xét xử vắng mặt trong đơn nêu tiền trong con lợn của con Đặng Bảo V1 và tiền trong con lợn của chị đã nhận được nên không có yêu cầu gì thêm. Đối với 02 con lợn đất bằng sứ đã vỡ không yêu cầu bị cáo phải trả lại.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Tiến T2 có đơn xin xét xử vắng mặt trong đơn nêu yêu cầu được lấy lại 01 dao nhọn màu đen, dài 36cm, cán dài 11cm, kim loại hình tròn gắn liền với lưỡi dao, dao 1 lưỡi sắc có đầu nhọn, đo phần rộng nhất của bản dao 4,6cm, ngoài ra không có ý kiến gì thêm.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh V3 có đơn xin xét xử vắng mặt trong đơn nêu đã mua lại dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc và 01 bộ xà tích bằng kim loại màu trắng của bị cáo với giá 300.000,₫ tuy nhiên lúc mua không biết dây chuyền và bộ X1 do trộm cắp mà có và nêu ý kiến đã nhận được số tiền 300.000,đ nên không có yêu cầu gì thêm.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đào Văn N có đơn xin xét xử vắng mặt trong đơn nêu đã mua lại một số sắt do bị cáo P bán tuy nhiên lúc mua không biết những tài sản đó do trộm cắp mà có và nêu ý kiến đã nhận được số tiền 1.050.000,đ nên không có yêu cầu gì thêm.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lâm Văn Q có đơn xin xét xử vắng mặt trong đơn nêu ý kiến không có yêu cầu gì đối với bị cáo.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn V4 có đơn xin xét xử vắng mặt trong đơn nêu ý kiến yêu cầu được trả lại: 01 chiếc búa tạ và 01 chiếc mỏ lết bằng kim loại màu trắng.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đặng Văn N1 có đơn xin xét xử vắng mặt trong đơn nêu ý kiến không có yêu cầu gì đối với bị cáo.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Triệu Thị H nêu ý kiến số tiền bà đã bỏ ra để trả cho ông Nguyễn Anh V3 ( 300.000,đ), ông Đăng Tiến T3 (2.000.000,₫), anh Đào Văn N ( 1.050.000,đ), bà Chu Thị L ( 2.730.000,đ) là do bị cáo tác động tuy nhiên do bị cáo là con ruột của bà nên bà không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn lại số tiền trên cho bà.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Vương Thị V nêu ý kiến số tiền chị đã bỏ ra để trả cho ông Đặng Tiến T2 (1.110.000,đ) là do bị cáo tác động tuy nhiên do bị cáo là chồng của chị V nên chị V không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn lại số tiền trên cho chị.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, r, s khoản 1,2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Hoàng Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu nên không xem xét
- - Về Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- * Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc túi vải màu đen có quai đeo bằng vải ở hai bên thân túi; 01 túi ni lon màu đen bên trong có nhiều mảnh vỡ bằng sứ một mặt màu trắng, một mặt màu đỏ, có nhiều kích thước khác nhau, nhiều mảnh vỡ vụn, mảnh to nhất có kích thước 17,7cm x 15cm; 01 túi ni lon màu hồng, bên trong có nhiều mảnh vỡ bằng sứ một mặt màu trắng, một mặt màu xanh, có nhiều kích thước khác nhau, nhiều mảnh vỡ vụn, mảnh to nhất có kích thước 17,5cm x 12,7cm.
- * Trả lại cho anh Hoàng Văn V4: 01 chiếc búa tạ và 01 chiếc mỏ lết bằng kim loại màu trắng
- * Trả lại cho bà Chu Thị L và bà Phan Thị T1:
- + 01 khối kim loại hình trụ tròn có đường kính 5,9cm, 1 đầu có gắn Puly kim loại đường kính 20cm, P1 có 3 rãnh, trên trục kim loại có gắn 2 vòng bi kim loại, mỗi vòng bi có đường kính 10,7cm, bản rộng vòng bi 2,7cm, toàn bộ khối kim loại nặng 18,2kg. Kí hiệu 01.
- + 01 khối kim loại hình trụ có đường kính 5,9cm, 02 đầu trụ kim loại có gắn 02 vòng bi mỗi vòng bi kim loại có đường kính 10,7cm, bản rộng vòng bi 2,7cm, trên thân trụ kim loại có rãnh kim loại nổi cao 1cm, dài 9cm, trên thân trụ kim loại có gắn 01 bánh răng có đường kính 23,5cm. Toàn bộ khối kim loại nặng 18kg. Kí hiệu 02.
- + 01 (một) khối kim loại hình trụ rỗng, đường kính trụ 11,5cm, cao 13cm, một đầu trụ có gắn miếng kim loại hình tròn có đường kính 18,7cm, dày 1,5cm, trên mặt miếng kim loại có 6 lỗ cách đều, đường kính lỗ 1,7cm. Khối kim loại nặng 13,8kg. Kí hiệu 03.
- + 01 khối kim loại hình trụ dài 40cm, một đầu thân trụ có gắn 01 vòng bi đường kính 15cm, bản rộng vòng bi 3,5cm, trên thân trục tiếp giáp với vòng bi có gắn 01 bánh răng đường kính 33cm, bản rộng bánh răng 8cm, phần trụ còn lại phân chia thành 3 đoạn có đường kính lần lượt là 7,3cm, 6,7cm, 6,2cm. Khối kim loại nặng 41kg. Kí hiệu 04.
- + 01 vòng bi kim loại đường kính 15cm, bản rộng vòng bi 3,5cm, nặng 2,2kg. Kí hiệu 05.
- + 01 khối kim loại không rõ hình dạng, mặt ngoài màu sơn xanh, bị bong tróc và dính chất màu đen, khối lượng 60kg, dài 73cm, rộng 29cm, lòng sâu nhất 16,7cm, rộng 16,5cm, thành rộng 6cm, trên thành có các lỗ có đường kính 1,5cm, 2 bên thành có 03 cặp nửa hình tròn đối xứng nhau, sâu xuống 2 bên thành, nửa cặp hình tròn thứ nhất đường kính 15cm, 2 nửa cặp hình tròn thứ 2 đường kính 10,9cm. Kí hiệu 06.
- + 01 khối kim loại không rõ hình dạng, mặt ngoài màu sơn xanh, bị bong tróc và dính chất màu đen, khối lượng 65,8kg, dài 73cm, rộng 29cm, một mặt của khối kim loại có miếng kim loại hình chữ nhật kích thước 47cmx39,5cm, dày 2,5cm, cách mép miếng kim loại 2cm ở 2 bên trên tấm kim loại có 04 lỗ có đường kính 1,5cm, khối kim loại có rãnh sâu 17,5cm, lòng rãnh rộng 16,7cm, mặt thành 2 bên rộng 6cm, trên thành có các lỗ có đường kính 1,5cm, 2 bên thành có 03 cặp nửa hình tròn đối xứng nhau, sâu xuống 2 bên thành, nửa cặp hình tròn thứ nhất đường kính 15cm, 2 nửa cặp hình tròn thứ 2 đường kính 10,9cm. Một đầu của khối kim loại có buộc sợi dây thừng màu trắng sỏ vào lỗ trên khối kim loại. Kí hiệu 07. Là của bà Chu Thị L và Phan Thị T1 nên cần trả lại cho bà L, bà T1.
- * Trả lại cho ông Dương Tiến T4: 01 dao nhọn màu đen, dài 36cm, cán dài 11cm, kim loại hình tròn gắn liền với lưỡi dao, dao 1 lưỡi sắc có đầu nhọn, đo phần rộng nhất của bản dao 4,6cm.
- * Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với: Số tiền: 88.000₫
- * Trả lại cho bà Hoàng Thị B: 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc; 01 bộ xà tích bằng kim loại màu trắng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Việc xét xử vắng mặt người bị hại tại phiên tòa và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị cáo không có ý kiến gì. Kiểm sát viên nêu quan điểm, việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng việc xét xử, vì họ đã nhận được giấy triệu tập hợp lệ đến phiên tòa và có đơn xin vắng mặt, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án là phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra, lời khai của bị hại, các tài liệu khác đã được cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng cuối tháng 4 năm 2023 Hoàng Văn P có hành vi trộm cắp tại xưởng băm gỗ của bà Chu Thị L tại thôn C, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn 01 mặt máy biến áp 250kVA-34/0,4kV có giá trị: 2.730.000đ. Đến ngày 11 và 12 tháng 5 năm 2023 P tiếp tục trộm cắp tại xưởng băm gỗ của bà L 01 bộ hộp số giảm tốc của máy bóc vỏ trị giá 3.276.000đ và 01 mặt bích khớp nối của hộp số giảm tốc với quả lô máy bóc vỏ có giá trị 546.000đ; Lần trộm cắp tiếp theo là ngày 14 tháng 5 năm 2023 P quay lại xưởng băm gỗ của bà L trộm cắp 02 nắp của máy băm gỗ có trị giá là 2.730.000đ. Đến buổi sáng và chiều ngày 15/5/2023 Hoàng Văn P tiếp tục đến nhà ông Đặng Tiến T2 ở khu P, xã V, huyện N trộm cắp tiền, tài sản của cháu Đặng Bảo V1, chị Bùi Thị V2, bà Hoàng Thị B có tổng giá trị: 2.764.000đ. Tổng số tiền, tài sản Hoàng Văn P trộm cắp có tổng giá trị là 12.046.000₫.
Hành vi của Hoàng Văn P là hành vi nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương; Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng
Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành "Tội trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- - Nhân thân: Ngày 11/5/2023 Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định số 02/2023/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn P, thời hạn chấp hành 12 tháng tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Kạn. P đã chấp hành từ ngày 31/5/2023 cho đến nay.
- -Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Hoàng Văn P được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; người phạm tội tự thú và người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm b, r, s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có cụ ngoại là ông Triệu Như T5 được Nhà nước thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
- - Về tình tiết tăng nặng: Hoàng Văn P bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
[4]. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù. HĐXX xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là nằm trong khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố và phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[ 5] Đánh giá ý kiến, quan điểm của người bào chữa cho bị cáo:
Quan điểm của người bào chữa của bị cáo khi đánh giá về nhân thân, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị cho bị cáo được hưởng hình phạt 06 đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. HĐXX xét thấy bị cáo nhiều lần phạm tội, thực hiện hành vi phạm tội liên tục, ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt, về nhân thân hiện nay bị cáo đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do vậy người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là không tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, căn cứ vào các quy định của pháp luật, HĐXX xét thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ sự hiểu biết, nhận thức về pháp luật, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Bị cáo thiếu tu dưỡng, rèn luyện, lười lao động, muốn hưởng lợi trên thành quả của người khác, đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần có một mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo và áp dụng hình phạt tù buộc bị cáo đi cải tạo tập trung một thời gian có như vậy mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện chất ma túy không có công việc ổn định, nên không áp dụng đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Những người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng:
- * Đối với:
- + 01 chiếc búa tạ, có tổng chiều dài 76cm, cán bằng gỗ tròn có đường kính 4cm, dài 71cm, phần đầu búa bằng kim loại hình trụ dài 13cm, rộng 6cm, dày 6cm, màu nâu đen. Được niêm phong bằng cách dán giấy niêm phong trên giấy niêm phong có chữ kí của các thành phần tham gia và 03 dấu đỏ hình tròn, dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện N.
- + 01 chiếc mỏ lết bằng kim loại màu trắng, dài 37cm, trên mỏ lết một mặt có ghi chữ FORGED STEEL, một mặt có ghi 15-375mm. Là của anh Hoàng Văn V4 cho bị cáo mượn, khi mượn anh V4 không biết P đem đi thực hiện hành vi trộm cắp. Anh V4 yêu cầu được lấy lại nên cần trả lại cho anh V4.
- * Đối với: 01 chiếc túi vải màu đen có quai đeo bằng vải ở hai bên thân túi. Cần tịch thu tiêu hủy do không còn giá trị sử dụng.
- * Đối với:
- + 01 khối kim loại hình trụ tròn có đường kính 5,9cm, 1 đầu có gắn Puly kim loại đường kính 20cm, P1 có 3 rãnh, trên trục kim loại có gắn 2 vòng bi kim loại, mỗi vòng bi có đường kính 10,7cm, bản rộng vòng bi 2,7cm, toàn bộ khối kim loại nặng 18,2kg. Kí hiệu 01.
- + 01 khối kim loại hình trụ có đường kính 5,9cm, 02 đầu trụ kim loại có gắn 02 vòng bi mỗi vòng bi kim loại có đường kính 10,7cm, bản rộng vòng bi 2,7cm, trên thân trụ kim loại có rãnh kim loại nổi cao 1cm, dài 9cm, trên thân trụ kim loại có gắn 01 bánh răng có đường kính 23,5cm. Toàn bộ khối kim loại nặng 18kg. Kí hiệu 02.
- + 01 (một) khối kim loại hình trụ rỗng, đường kính trụ 11,5cm, cao 13cm, một đầu trụ có gắn miếng kim loại hình tròn có đường kính 18,7cm, dày 1,5cm, trên mặt miếng kim loại có 6 lỗ cách đều, đường kính lỗ 1,7cm. Khối kim loại nặng 13,8kg. Kí hiệu 03.
- + 01 khối kim loại hình trụ dài 40cm, một đầu thân trụ có gắn 01 vòng bi đường kính 15cm, bản rộng vòng bi 3,5cm, trên thân trục tiếp giáp với vòng bi có gắn 01 bánh răng đường kính 33cm, bản rộng bánh răng 8cm, phần trụ còn lại phân chia thành 3 đoạn có đường kính lần lượt là 7,3cm, 6,7cm, 6,2cm. Khối kim loại nặng 41kg. Kí hiệu 04.
- + 01 vòng bi kim loại đường kính 15cm, bản rộng vòng bi 3,5cm, nặng 2,2kg. Kí hiệu 05.
- + 01 khối kim loại không rõ hình dạng, mặt ngoài màu sơn xanh, bị bong tróc và dính chất màu đen, khối lượng 60kg, dài 73cm, rộng 29cm, lòng sâu nhất 16,7cm, rộng 16,5cm, thành rộng 6cm, trên thành có các lỗ có đường kính 1,5cm, 2 bên thành có 03 cặp nửa hình tròn đối xứng nhau, sâu xuống 2 bên thành, nửa cặp hình tròn thứ nhất đường kính 15cm, 2 nửa cặp hình tròn thứ 2 đường kính 10,9cm. Kí hiệu 06.
- + 01 khối kim loại không rõ hình dạng, mặt ngoài màu sơn xanh, bị bong tróc và dính chất màu đen, khối lượng 65,8kg, dài 73cm, rộng 29cm, một mặt của khối kim loại có miếng kim loại hình chữ nhật kích thước 47cmx39,5cm, dày 2,5cm, cách mép miếng kim loại 2cm ở 2 bên trên tấm kim loại có 04 lỗ có đường kính 1,5cm, khối kim loại có rãnh sâu 17,5cm, lòng rãnh rộng 16,7cm, mặt thành 2 bên rộng 6cm, trên thành có các lỗ có đường kính 1,5cm, 2 bên thành có 03 cặp nửa hình tròn đối xứng nhau, sâu xuống 2 bên thành, nửa cặp hình tròn thứ nhất đường kính 15cm, 2 nửa cặp hình tròn thứ 2 đường kính 10,9cm. Một đầu của khối kim loại có buộc sợi dây thừng màu trắng sỏ vào lỗ trên khối kim loại. Kí hiệu 07. Là của bà Chu Thị L và Phan Thị T1 nên cần trả lại cho bà L, bà T1.
- * Đối với:
- + 01 túi ni lon màu đen bên trong có nhiều mảnh vỡ bằng sứ một mặt màu trắng, một mặt màu đỏ, có nhiều kích thước khác nhau, nhiều mảnh vỡ vụn, mảnh to nhất có kích thước 17,7cm x 15cm.
- + 01 túi ni lon màu hồng, bên trong có nhiều mảnh vỡ bằng sứ một mặt màu trắng, một mặt màu xanh, có nhiều kích thước khác nhau, nhiều mảnh vỡ vụn, mảnh to nhất có kích thước 17,5cm x 12,7cm.
Không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- * Đối với:
- + 01 dao nhọn màu đen, dài 36cm, cán dài 11cm, kim loại hình tròn gắn liền với lưỡi dao, dao 1 lưỡi sắc có đầu nhọn, đo phần rộng nhất của bản dao 4,6cm. Là tài sản của ông Dương Tiến T4, ông T4 có yêu cầu được lấy lại nên cần trả lại cho ông T4
- * Đối với: Số tiền: 88.000đ được để trong túi niêm phong kí hiệu PS3A 097740 (túi do Bộ C1 cấp), một mặt của túi niêm phong ghi thông tin vụ án, có chữ kí của các thành phần tham gia, một mặt tại mép dán của túi có dán giấy niêm phong chuyên dụng. Cần tịch thu sung quỹ Nhà nước do số tiền trên là do bị cáo bán tài sản trộm cắp mà có.
- * Đối với:
- - 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc, chế tác kiểu 05 mắt xích tròn nối cách đều với 01 mắt xích dẹt khuyết ở giữa, trên dây chuyền treo 02 chiếc khuyên tai chế tác kiểu vành khuyên đều bằng kim loại màu trắng bạc, mỗi khuyên tai đều treo 01 mặt hình trái tim gắn 01 viên vật liệu màu đỏ và 07 viên vật liệu không màu có tổng khối lượng 15,19 gam (mười năm phẩy mười chín gam, tính cả viên vật liệu);
- - 01 bộ xà tích bằng kim loại màu trắng gồm: 02 đoạn chế tác kiểu các mắt xích nối với nhau, một đầu dây lồng chung một vòng tròn nhỏ, đầu còn lại lồng chung vòng tròn to, treo 01 đồng xu có các chữ, số “10 CENT” lồng các vòng tròn nhỏ treo 01 thanh dài có một đầu tròn, 01 thanh dài có một đầu dẹt, 01 thanh dài có một đầu lõm có tổng khối lượng 26,59 gam. Được niêm phong 01 phong bì số 4271/KL-KTHS.
Là tài sản của bà Hoàng Thị B, bà B yêu cầu được lấy lại nên cần trả lại cho bà B.
[9] Tại Cơ quan điều tra bà Chu Thị L trình bày ngoài các tài sản bị mất đã làm rõ do Hoàng Văn P thực hiện hành vi trộm cắp, còn một số tài sản khác tại xưởng băm gỗ của bà L bị mất trộm, tuy nhiên thời gian mất trong khoảng từ 2 đến 3 năm trước đó đồng thời tài sản bị mất không xác định được loại tài sản gì do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh xử lý tiếp.
Chị Bùi Thị V2 trình bày ngoài việc chị V2 bị mất con lợn sứ có số tiền 1.110.000đ (một triệu một trăm mười nghìn), chị còn mất 02 sợi dây chuyền bạc, tuy nhiên kết quả điều tra không đủ căn cứ xác định P trộm cắp 02 sợi dây chuyền bạc này, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với P về hành vi này là đúng quy định.
Bà Hoàng Thị B và ông Đặng Văn T6 là người cất giữ con lợn sứ để tiền tiết kiệm của cháu Đặng Bảo V1 trình bày bên trong con lợn sứ màu xanh có số tiền là 2.000.000đ (hai triệu đồng). Quá trình điều tra xác định số tiền trong con lợn sứ màu xanh là 915.000đ (chín trăm mười năm nghìn đồng). Do vậy không đủ căn cứ xác định tài sản bên trong con lợn sứ là 2.000.000đ (hai triệu đồng) như lời trình bày của bà B và ông T6. Tuy nhiên theo yêu cầu của bị hại thì P cũng đã bồi thường cho bà B, ông T6 số tiền 2000.000₫.
Đối với bộ xà tích do Phúc trộm của bà Hoàng Thị B sau đó đem bán cho cửa hàng kinh doanh vàng bạc V tại tổ N, thị trấn Y, huyện N. Sau khi xem hình ảnh bộ xà tích, bà Hoàng Thị B cho rằng bộ X1 còn thiếu một vòng bạc, tuy nhiên kết quả điều tra với ông Nguyễn Anh V3 là chủ cửa hàng kinh doanh vàng bạc V thì khi mua bộ xà tích, ông V3 không thấy có vòng tròn bạc to nào kèm theo bộ xà tích ông V5 mua, sau khi biết là tài sản trộm cắp ông V3 đã giao nộp tất cả lại cho Cơ quan Công an, do vậy không có cơ sở xác định bộ xà tích đó còn có thêm một vòng bạc như lời trình bày của bà B.
Đối với anh Nguyễn Anh V3; ông Đào Văn N khi mua tài sản của Hoàng Văn P không biết được số tài sản đó do trộm cắp được mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý ông V3, ông N là đúng quy định.
Đối với ông Hoàng Văn V4; Đặng Văn N1; Lâm Văn Q; khi P mượn công cụ, phương tiện không biết P đem đi thực hiện hành trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[10] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ và có đơn xin miễm án phí. Do đó, miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn P phạm "Tội trộm cắp tài sản".
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b,r, s khoản 1,2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Hoàng Văn P 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. - Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- * Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 chiếc túi vải màu đen có quai đeo bằng vải ở hai bên thân túi
- + 01 túi ni lon màu đen bên trong có nhiều mảnh vỡ bằng sứ một mặt màu trắng, một mặt màu đỏ, có nhiều kích thước khác nhau, nhiều mảnh vỡ vụn, mảnh to nhất có kích thước 17,7cm x 15cm.
- + 01 túi ni lon màu hồng, bên trong có nhiều mảnh vỡ bằng sứ một mặt màu trắng, một mặt màu xanh, có nhiều kích thước khác nhau, nhiều mảnh vỡ vụn, mảnh to nhất có kích thước 17,5cm x 12,7cm.
- * Trả lại cho anh Hoàng Văn V4:
- + 01 chiếc búa tạ, có tổng chiều dài 76cm, cán bằng gỗ tròn có đường kính 4cm, dài 71cm, phần đầu búa bằng kim loại hình trụ dài 13cm, rộng 6cm, dày 6cm, màu nâu đen. Được niêm phong bằng cách dán giấy niên phong trên giấy niêm phong có chữ kí của các thành phần tham gia và 03 dấu đỏ hình tròn, dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện N.
- + 01 chiếc mỏ lết bằng kim loại màu trắng, dài 37cm, trên mỏ lết một mặt có ghi chữ FORGED STEEL, một mặt có ghi 15-375mm
- * Trả lại cho bà Chu Thị L và Phan Thị T1:
- + 01 khối kim loại hình trụ tròn có đường kính 5,9cm, 1 đầu có gắn Puly kim loại đường kính 20cm, P1 có 3 rãnh, trên trục kim loại có gắn 2 vòng bi kim loại, mỗi vòng bi có đường kính 10,7cm, bản rộng vòng bi 2,7cm, toàn bộ khối kim loại nặng 18,2kg. Kí hiệu 01.
- + 01 khối kim loại hình trụ có đường kính 5,9cm, 02 đầu trụ kim loại có gắn 02 vòng bi mỗi vòng bi kim loại có đường kính 10,7cm, bản rộng vòng bi 2,7cm, trên thân trụ kim loại có rãnh kim loại nổi cao 1cm, dài 9cm, trên thân trụ kim loại có gắn 01 bánh răng có đường kính 23,5cm. Toàn bộ khối kim loại nặng 18kg. Kí hiệu 02.
- + 01 (một) khối kim loại hình trụ rỗng, đường kính trụ 11,5cm, cao 13cm, một đầu trụ có gắn miếng kim loại hình tròn có đường kính 18,7cm, dày 1,5cm, trên mặt miếng kim loại có 6 lỗ cách đều, đường kính lỗ 1,7cm. Khối kim loại nặng 13,8kg. Kí hiệu 03.
- + 01 khối kim loại hình trụ dài 40cm, một đầu thân trụ có gắn 01 vòng bi đường kính 15cm, bản rộng vòng bi 3,5cm, trên thân trục tiếp giáp với vòng bi có gắn 01 bánh răng đường kính 33cm, bản rộng bánh răng 8cm, phần trụ còn lại phân chia thành 3 đoạn có đường kính lần lượt là 7,3cm, 6,7cm, 6,2cm. Khối kim loại nặng 41kg. Kí hiệu 04.
- + 01 vòng bi kim loại đường kính 15cm, bản rộng vòng bi 3,5cm, nặng 2,2kg. Kí hiệu 05.
- + 01 khối kim loại không rõ hình dạng, mặt ngoài màu sơn xanh, bị bong tróc và dính chất màu đen, khối lượng 60kg, dài 73cm, rộng 29cm, lòng sâu nhất 16,7cm, rộng 16,5cm, thành rộng 6cm, trên thành có các lỗ có đường kính 1,5cm, 2 bên thành có 03 cặp nửa hình tròn đối xứng nhau, sâu xuống 2 bên thành, nửa cặp hình tròn thứ nhất đường kính 15cm, 2 nửa cặp hình tròn thứ 2 đường kính 10,9cm. Kí hiệu 06.
- + 01 khối kim loại không rõ hình dạng, mặt ngoài màu sơn xanh, bị bong tróc và dính chất màu đen, khối lượng 65,8kg, dài 73cm, rộng 29cm, một mặt của khối kim loại có miếng kim loại hình chữ nhật kích thước 47cmx39,5cm, dày 2,5cm, cách mép miếng kim loại 2cm ở 2 bên trên tấm kim loại có 04 lỗ có đường kính 1,5cm, khối kim loại có rãnh sâu 17,5cm, lòng rãnh rộng 16,7cm, mặt thành 2 bên rộng 6cm, trên thành có các lỗ có đường kính 1,5cm, 2 bên thành có 03 cặp nửa hình tròn đối xứng nhau, sâu xuống 2 bên thành, nửa cặp hình tròn thứ nhất đường kính 15cm, 2 nửa cặp hình tròn thứ 2 đường kính 10,9cm. Một đầu của khối kim loại có buộc sợi dây thừng màu trắng sỏ vào lỗ trên khối kim loại. Kí hiệu 07.
- * Trả lại cho ông Dương Tiến T4:
- 01 dao nhọn màu đen, dài 36cm, cán dài 11cm, kim loại hình tròn gắn liền với lưỡi dao, dao 1 lưỡi sắc có đầu nhọn, đo phần rộng nhất của bản dao 4,6cm
- * Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với: 01 túi niêm phong số kí hiệu PS3A 097740, bên trong có số tiền: 88.000đ bao gồm các tờ tiền có mệnh giá: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đ; 01 tờ tiền mệnh giá 2.000đ; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đ; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000đ; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000₫.
- * Trả lại cho bà Hoàng Thị B: 01 phong bì niêm phong số 4271/KL-KTHS, bên trong có:
- 01 dây chuyền bằng kim loại màu trắng bạc, chế tác kiểu 05 mắt xích tròn nối cách đều với 01 mắt xích dẹt khuyết ở giữa, trên dây chuyền treo 02 chiếc khuyên tai chế tác kiểu vành khuyên đều bằng kim loại màu trắng bạc, mỗi khuyên tai đều treo 01 mặt hình trái tim gắn 01 viên vật liệu màu đỏ và 07 viên vật liệu không màu có tổng khối lượng 15,19 gam (mười năm phẩy mười chín gam, tính cả viên vật liệu);
- 01 bộ xà tích bằng kim loại màu trắng gồm: 02 đoạn chế tác kiểu các mắt xích nối với nhau, một đầu dây lồng chung một vòng tròn nhỏ, đầu còn lại lồng chung vòng tròn to, treo 01 đồng xu có các chữ, số “10 CENT” lồng các vòng tròn nhỏ treo 01 thanh dài có một đầu tròn, 01 thanh dài có một đầu dẹt, 01 thanh dài có một đầu lõm có tổng khối lượng 26,59 gam.
(Số lượng, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 10 năm 2023 và ngày 16 tháng 10 năm 2023 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án huyện N, tỉnh Bắc Kạn).
- * Tịch thu tiêu hủy:
- Về án phí:
Áp dụng Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Bị cáo Hoàng Văn P được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm .
- Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Luân |
Bản án số 35/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 35/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn P ( Trộm cắp tài sản)
