Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HS-ST

Ngày: 27 - 10 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Huệ
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
  • Ông Nguyễn Văn Lem

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 10 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn N, sinh ngày 18/3/2002; nơi sinh tại tỉnh Sóc Trăng; tên gọi khác: không. Nơi cư trú: ấp Nguyễn Công Minh A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1975; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự, tại Quyết định số 340/2021/QĐ-TA ngày 05/4/2021 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N thời hạn 15 tháng kể từ ngày 10/01/2021, chấp hành xong ngày 04/3/2022. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/7/2023 cho đến nay (có mặt).

2. Điều Hoài L, sinh ngày 04/5/2002; nơi sinh tại tỉnh Sóc Trăng; tên gọi khác: không. Nơi cư trú: ấp Nguyễn Công Minh A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Điều Văn K, sinh năm 1984 và bà Trần Thị D, sinh năm 1983; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/7/2023 cho đến nay (có mặt).

1

- Bị hại: Anh Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 2002. Nơi cư trú: ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Chị Phan Thị D1, sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
  2. Chị Văn Ngọc P, sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/4/2023, Điều Hoài LNguyễn Văn N đến thuê trọ tại phòng số 7 nhà trọ của chị Văn Ngọc P tại ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre làm chủ. Khoảng 10 giờ ngày 08/4/2023, trong lúc đi bộ ngang cơ sở game bắn cá của chị Phan Thị D1 cùng ấp, LN thấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 71B2-802.23 của anh Nguyễn Hoàng Q, dựng trước cửa tiệm game và trên xe có gắn sẵn chìa khóa nên LN nảy sinh ý định trộm xe mô tô của anh Q. LN giả vờ đi ngang qua tiệm game rồi quay lại quan sát đợi lúc không có người, LN vào dẫn trộm xe mô tô biển kiểm soát 71B2-802.23 của anh Q. Trộm xong, L điều khiển xe vừa trộm được chở N về phòng trọ lấy đồ dùng cá nhân rồi đi lên Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, L đem xe mô tô biển kiểm soát 71B2-802.23 đem đi cầm tại cơ sở cầm đồ “H" tại số D, tỉnh lộ 10, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh do anh Trần Minh H làm chủ được 4.000.000 đồng, khi cầm xe mô tô L không có nói với anh H là xe mô tô này do trộm cắp mà có, L chia cho Nhí 2.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 căn cước công dân số [...] tên Điều Hoài L và 01 căn cước công dân số [...] tên Nguyễn Văn N do chị Văn Ngọc P giao nộp.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn trắng-đen, biển kiểm soát 71B2-802.23 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đứng tên Tô Thị Thanh H1 (mẹ của Q) do anh Trần Minh H giao nộp.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG ngày 18/4/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện G kết luận tại thời điểm ngày 08/4/2023: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, biển số 71B2-802.23, mua cũ tháng 3/2017, giá 9.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Điều Hoài LNguyễn Văn N khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như nêu trên; NL khai phù hợp với nhau là phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.

2

Bản Cáo trạng số 33/CT-VKSGT, ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre truy tố Nguyễn Văn NĐiều Hoài L về “Tội trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn NĐiều Hoài L phạm tội “Trộm cắp tài sản".

- Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Nguyễn Văn N có mức án từ 07 tháng đến 10 tháng tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Điều Hoài L có mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị hại đã nhận lại xe mô tô biển số 71B2-802.23 đã bị các bị cáo trộm cắp và có không yêu cầu gì khác.

- Về xử lý vật chứng: đã xử lý xong trong giai đoạn điều tra nên không đề cập.

Lời nói sau cùng của các bị cáo là thừa nhận hành vi phạm tội, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin hứa sẽ khắc phục và có yêu cầu Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

3

[2] Tại phiên tòa, bị hại, người làm chứng vắng mặt, đối với bị hại về trách nhiệm dân sự bị hại đã được nhận lại tài sản các bị cáo chiếm đoạt và không có yêu cầu các bị cáo bồi thường gì khác. Trong quá trình điều tra bị hại, các người làm chứng đã có lời khai rõ ràng, nên sự vắng mặt của bị hại, các người làm chứng không làm trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn N, Điều Hoài L1 đã khai nhận hành vi như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, đồng thời phù hợp lời khai bị hại, lời khai của người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, xác định hiện trường cùng các chứng cứ khác của Cơ quan điều tra thu thập. Do đó, có cơ sở khẳng định: vào lúc 10 giờ, ngày 08/4/2023, Nguyễn Văn NĐiều Hoài L1 có hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô biển kiểm soát 71B2-802.23 trị giá 9.000.000 đồng của anh Nguyễn Hoàng Q tại ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn N, Điều Hoài Linh phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn N, Điều Hoài L1 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo đã lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản. Nhí và L1 đều thừa nhận cùng phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 71B2-802.23 của anh Q dựng trước cửa tiệm game và trên xe có gắn sẵn chìa khóa nên nảy sinh ý định trộm xe. Cả hai cùng bàn tính giả vờ đi ngang qua tiệm game rồi quay lại quan sát đợi lúc không có người để tiếp cận, bị cáo L1 dẫn xe mô tô ra lộ nhựa, lên xe khởi động máy và chở bị cáo N tẩu thoát. Do đó, xác định trong vụ án này có vai trò đồng phạm, tuy nhiên đồng phạm có tính chất giản đơn, không có kế hoạch, không có phân công vai trò của từng bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy hành vi của các bị cáo cần xét xử nghiêm theo quy định của pháp luật.

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

4

- Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn N có 01 tiền sự, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng đã chấp hành xong ngày 04/3/2022, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội là chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên xác định là có nhân thân xấu. Bị cáo Điều Hoài L1 không có tiền án, tiền sự nên có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ngoài tình tiết định tội, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tài sản các bị cáo trộm đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; gia đình của các bị cáo đã liên đới hoàn trả lại tiền cầm xe cho anh H, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó, các bị cáo được xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Qua xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xét xử nghiêm theo quy định của pháp luật, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo giáo dục các bị cáo, đồng thời góp phần răn đe phòng ngừa tội phạm. Đối với bị cáo N có nhân thân xấu nên cần áp dụng mức hình phạt cao hơn so với bị cáo L1.

[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy nghề nghiệp của các bị cáo làm thuê, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[8] Về xử lý vật chứng: trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng như sau:

  • - Ngày 25 tháng 7 năm 2023, đã trả 01 căn cước công dân số [...] cho Điều Hoài L1 và trả 01 căn cước công dân số [...] cho Nguyễn Văn N.
  • - Ngày 26 tháng 7 năm 2023, trả cho anh Nguyễn Hoàng Q: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn trắng-đen, biển kiểm soát 71B2-802.23 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô do mẹ Q tên Tô Thị Thanh H1 nhận thay.

Xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là phù hợp với quy định của Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận gia đình các bị cáo L1, N đã liên đới hoàn trả 4.000.000 đồng là tiền đã cầm xe mô tô cho anh Trần Minh H. Ghi nhận bị hại anh Nguyễn Hoàng Q đã nhận lại được 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn trắng-đen, biển kiểm soát 71B2-802.23. Ngoài ra, anh H và anh Q không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

5

[10] Đối với anh Trần Duy H2 cầm xe mô tô biển số 71B2-802.23 không biết nguồn gốc xe mô tô là do N, L1 trộm cắp mà có, nên không xem xét xử lý H2 về “Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.

[11] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt của các bị cáo là hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Về án phí: các bị cáo Nguyễn Văn N, Điều H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Điều Hoài L1 phạm“Tội trộm cắp tài sản".

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Nguyễn Văn N 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 24/7/2023.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Điều Hoài L1 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 24/7/2023.

3. Về án phí: căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn NĐiều Hoài L1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Giồng Trôm;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Giồng Trôm;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Giồng Trôm;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre;
  • - Các bị cáo; bị hại;
  • - Bộ phận thi hành án hình sự;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Thanh Huệ

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 35/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger