|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày 27/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Triều.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Long và ông Nguyễn Ngọc Chẩn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Bảo Ngọc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa:
Ông Trương Minh Sang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/HSST ngày 16 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024, Thông báo mở lại phiên toà số 12/2024/HSST-QĐ ngày 16/8/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Duy C – sinh ngày 24/8/1990 tại Q, Bình Định; Nơi thường trú: Tổ E, khu phố E, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nơi tạm trú: thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: cắt tóc; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (chết), bà Trần Thị Kim L – sinh năm 1967; Em ruột: Nguyễn Duy P – sinh năm 1992; Vợ: Trần Thị H1 – sinh năm 1991; Con ruột: Nguyễn Trần Khánh L1 – sinh năm 2012 và Nguyễn Trần Khánh V – sinh năm 2016. Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 154/2023/HSST ngày 19/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt Nguyễn Duy C 03 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 11/10/2023. Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S, có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H2 – sinh năm 1989, địa chỉ: Lãnh T, X, Đ, Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 18/01/2024, Nguyễn Duy C đến khu vực công viên đối diện bến xe thành phố Q, tỉnh Bình Định gặp một người đàn ông lạ mua 04 bì ma tuý với số tiền 3.000.000đ (trong đó 03 bịch chứa hàng khay và 01 bịch chứa 03 viên thuốc lắc) rồi mang ma tuý đi về nhà bạn gái Nguyễn Thị H2 tại L, X, Đ, Phú Yên cất giấu nhằm mục đích sử dụng cá nhân (thời điểm này C sống chung với H2 tại L, X, Đ, Phú Yên). Đến chiều ngày 22/01/2024, C rủ H2 đi thị xã S chơi thì H2 đồng ý, C mang theo ma tuý trong người và điều khiển xe mô tô của H2 biển kiểm soát 78K1-268.10 chở H2 đến thị xã S. Khi đến cảng cá D thuộc phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên thì H2 xuống xe ngồi ở quán nước bên ngoài đợi, C điều khiển xe mô tô chạy vào bên trong cảng cá để mua hải sản thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ 04 bịch ma tuý C cất giấu bên trong khẩu trang đang đeo trên mặt.
Tại Bản Kết luận giám định số 28/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh P kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu A1) trong bì nilon trong suốt vuốt kín là ma tuý, có khối lượng 0,352g, loại Ketamine; Tinh thể màu trắng (ký hiệu A2) trong bì nilon trong suốt vuốt kín là ma tuý, có khối lượng 0,436g loại Ketamine; Tinh thể màu trắng (ký hiệu A3) trong bì nilon trong suốt vuốt kín là ma tuý, có khối lượng 0,973g loại Ketamine; 03 viên nén màu xám (ký hiệu A4) trong bì nilon vuốt kín là ma tuý, có khối lượng 1,259g, loại MDMA.
Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSSC ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố Nguyễn Duy C tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và khẳng định Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý là đúng tội, không oan.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; áp dụng điểm i khoản 1, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024. Phạt bổ sung: Từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ.
- Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ: 01 khẩu trang màu trắng và số ma tuý còn lại sau giám định, vì trực tiếp liên quan đến tội phạm. Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động và 01 Căn cước công dân đứng tên Nguyễn Duy C, vì không trực tiếp liên quan đến tội phạm.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Đối với người đàn ông bán ma tuý cho C không rõ nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xác minh xử lý. Đối với Nguyễn Thị H2 không biết C cất giấu ma tuý để sử dụng nên không xem xét xử lý.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ ngày 22/01/2024 tại cảng cá D thuộc phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Duy C đã có hành vi cất giấu trái phép 04 bịch ma tuý có chứa 1,761g ma tuý loại Ketamine và 1,259g ma tuý loại MDMA với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang. Hành vi của Nguyễn Duy C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố Nguyễn Duy C là có căn cứ pháp luật.
[2.2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 11/10/2023, vợ bị cáo thì đang chấp hành án phạt tù tội phạm liên quan đến ma tuý, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[2.3] Xét bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo hiện có 02 con nhỏ, tại phiên toà Hội đồng xét xử thấy được bị cáo đã rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, vì vậy khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị
cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[2.4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có cơ sở nên chấp nhận phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Duy C số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng), nộp một lần vào ngân sách nhà nước.
[2.5] Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ: 01 khẩu trang màu trắng và số ma tuý còn lại sau giám định, vì trực tiếp liên quan đến tội phạm. Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động và 01 Căn cước công dân đứng tên Nguyễn Duy C, vì không trực tiếp liên quan đến tội phạm.
[2.6] Đối với người đàn ông bán ma tuý cho C nhưng không rõ nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xác minh xử lý. Đối với Nguyễn Thị H2 không biết C cất giấu ma tuý để sử dụng nên không xem xét xử lý.
[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 38, Điều 46, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm i khoản 1, 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Nguyễn Duy C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Duy C số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng), nộp một lần vào ngân sách nhà nước.
Vật chứng vụ án:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) khẩu trang màu trắng và số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong mặt trước bì có ghi “Hoàn trả lại Đồn Biên phòng X, BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh P A₁=0,315g loại Ketamine; A₂=0,380g loại Ketamine; A₃=0,857g loại Ketamine; A₄=1,058g loại MDMA theo Kết luận giám định số 28/KL-KTHS_ngày 23/01/2024”, mặt sau bì niêm phong có hình dấu Phòng K1 Công an tỉnh P, chữ ký ghi tên Phan Đức K và Nông Quý Đ.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy C: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, kiểu máy CPH 2159, có gắn sim số 0359 562 589 và sim số 0358 350 124; 01 (một) Căn cước công dân số [...] đứng tên Nguyễn Duy C.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát
điều tra Công an thị xã S với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Việt Triều |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Lê Văn Long |
Nguyễn Ngọc Chẩn |
Phạm Việt Triều |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt tù
