Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỒ SƠN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày 27-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Yến

Ông Trần Văn Hợp

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Ngõ B đường N, tổ dân phố số I, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 19/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 13/8/2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN D, sinh ngày 31 tháng 01 năm 2001 tại Quảng Ninh; nơi cư trú: Khu A, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1980 và bà Bùi Thị N, sinh năm 1982; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 28/02/2024; có mặt.

Bị hại: Công ty cổ phần X; địa chỉ trụ sở: Cụm C, xã Q, huyện T, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn C - Giám đốc Công ty.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Anh Nguyễn Mai H, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt không có lý do, đã được triệu tập hợp lệ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt không có lý do, đã được triệu tập hợp lệ.

2. Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Đinh Văn A; vắng mặt không có lý do, đã được triệu tập hợp lệ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn D là thợ lắp đặt cửa cuốn cho Công ty Cổ phần X, làm việc trong Dự án Khu D, thuộc tổ dân phố số H, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Cuối tháng 11/2023, D đã nghỉ việc. Do không có tiền ăn tiêu, nên D đã nảy sinh ý định vào Dự án Khu du lịch Quốc tế Đồi Rồng xem căn biệt thự nào có Mô tơ cửa cuốn để sơ hở sẽ trộm cắp bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Trong thời gian từ ngày 01/12/2023 đến ngày 24/12/2023, D đã 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp 10 Mô tơ cửa cuốn, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 01/12/2023, D điều khiển xe Mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đen, Biển kiểm soát 14K1- 105.89 đi từ nhà trọ ở đường M, quận K, thành phố Hải Phòng đến Dự án Khu D, thuộc tổ dân phố số H, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng với mục đích trộm cắp Mô tơ cửa cuốn. Trên đường đi, D vào Cửa hàng bán vật liệu xây dựng thuộc khu vực quận Đ, thành phố Hải Phòng (D không nhớ địa chỉ, tên Cửa hàng) mua 01 Cờ lê cỡ số 17 bằng kim loại rồi tiếp tục điều khiển xe Mô tô vào khu vực Z thuộc Dự án Khu D. Tại đây, D quan sát có một số căn biệt thự đang thi công, không có người trông coi, nên lấy thang tre tại công trường, trèo lên vị trí lắp đặt Mô tơ, dùng Cờ lê tháo Mô tơ ra khỏi vị trí lắp đặt, D tháo được 02 Mô tơ cửa cuốn tại 02 căn biệt thự. Lấy được tài sản, D đặt 02 Mô tơ tại võng xe rồi đi đến Cửa hàng sửa chữa cửa cuốn ở địa chỉ số G đường T, quận K, thành phố Hải Phòng bán để anh Nguyễn Văn T (sinh năm 1981, trú tại: Tổ dân phố Đ, phường Đ, quận K, Hải Phòng) mua với giá 900.000 đồng (450.000 đồng/Mô tơ).

- Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 10/12/2023, cũng hành vi như trên, D đã trộm cắp được 02 Mô tơ cửa cuốn ở 02 căn biệt thự liền kề, rồi chở đến Cửa hàng của anh T để bán, nhưng anh T không mua nữa. Sau đó, D điều khiển xe đến Cửa hàng lắp đặt cửa cuốn ở số F đường N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng bán để chị Phạm Thị H1 (sinh năm 1977, trú tại: Tổ dân phố T, phường Q, quận K, Hải Phòng) mua với giá 900.000 đồng (450.000 đồng/Mô tơ). Chị H1 dùng số tài khoản 19036956707019 của mình mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 (Viết tắt: T1) chuyển tiền trả 850.000 đồng vào số tài khoản 99962656789 của D mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Viết tắt: MB), chị H1 trả tiếp 50.000 đồng tiền mặt để D nhận.

- Lần thứ ba: Khoảng 11 giờ ngày 17/12/2023, D trộm cắp 02 Mô tơ mang đến bán để chị H1 mua với giá 900.000 đồng (450.000 đồng/Mô tơ).

- Lần thứ tư: Khoảng 07 giờ ngày 24/12/2023, D trộm cắp 02 Mô tơ, bán để chị H1 mua với giá 1.000.000 đồng (500.000 đồng/Mô tơ).

- Lần thứ năm: Khoảng 15 giờ ngày 24/12/2023, D tiếp tục điều khiển xe Mô tô mang theo Cờ lê vào Dự án Khu du lịch Quốc tế Đồi Rồng trộm cắp được 02 Mô tơ rồi đặt trên võng xe mô tô, điều khiển xe theo hướng đi ra phía ngoài khu vực Dự án với mục đích để bán lấy tiền chi tiêu. Khi D đi đến cổng của Dự án Đồi Rồng thì bị lực lượng an ninh kiểm tra, phát hiện D đang chở 02 Mô tơ trên xe, nghi là tài sản do trộm cắp mà có. Nên tạm giữ D, điện thoại báo với Công an phường V đến làm việc. D khai nhận 02 Mô tơ D chở trên xe là tài sản vừa trộm cắp được tại Biệt thự trong Dự án. Nên D cùng vật chứng bị đưa về trụ sở Công an phường V để làm việc.

- Ngày 25/12/2023, Công an quận Đ thu giữ 02 Mô tơ tại Cửa hàng của anh Nguyễn Văn T và 02 Mô tơ tại Cửa hàng của chị Phạm Thị H1. 04 Mô tơ còn lại, chị H1 đã bán để khách hàng không quen biết mua, nên không thu hồi lại được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 26/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Đ kết luận: “10 (mười) Mô tơ cửa cuốn nhãn hiệu YH-300 do Đài Loan sản xuất có giá 47.830.000 đồng”.

- Ngày 29/5/2024, chị Phạm Thị H1 tự nguyện đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ giao nộp số tiền 19.132.000 đồng do chị H1 đã bán 04 Mô tơ không thu hồi được, tương ứng với giá trị định giá tài sản nêu trên để bồi thường bị hại.

Vật chứng của vụ án:

  • - 06 (sáu) Mô tơ cửa cuốn nhãn hiệu YH-300 do Đài Loan sản xuất thu giữ tại Cửa hàng của anh Nguyễn Văn T (02 Mô tơ), chị Phạm Thị H1 (02 Mô tơ) và thu của Nguyễn Văn D 02 Mô tơ, 01 xe Mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đen, Biển kiểm soát 14K1- 105.89; 01 cờ lê 17 bằng kim loại dài 21 cm, 01 đầu có 02 cạnh, đầu còn lại có hình trụ tròn; số tiền 19.132.000 đồng (do chị H1 giao nộp), chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.
  • - 04 (bốn) Mô tơ cửa cuốn nhãn hiệu YH-300 do Đài Loan sản xuất, D bán để chị Phạm Thị H1 mua; 01 thang bằng tre dài khoảng 4,5 mét, đầu thang rộng khoảng 30 cm, chân thang rộng khoảng 50 cm, đều không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự:

Người đại diện của bị hại - anh Nguyễn Mai H yêu cầu D phải trả lại số Mô tơ bị trộm cắp đã thu hồi được và số tiền tương ứng với giá trị 04 Mô tơ không thu hồi được theo kết luận định giá tài sản, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn D (D chưa bồi thường); anh Nguyễn Văn T yêu cầu D phải bồi thường 900.000 đồng, chị Phạm Thị H1 yêu cầu D phải bồi thường 2.800.000 đồng là những số tiền anh T, chị H1 đã trả D khi mua Mô tơ do D bán. Chị H1 đã tự nguyện nộp lại số tiền 19.132.000 đồng (tương ứng với giá trị 04 Mô tơ theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản) chị đã bán, không thu hồi được để bồi thường bị hại, chị không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn D khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với xe Mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đen, Biển kiểm soát 14K1- 105.89 thuộc sở hữu hợp pháp của cha mẹ đẻ bị cáo - ông K, bà N. Nhưng ông K, bà N đều không biết bị cáo sử dụng xe vào việc trộm cắp tài sản. Đối với anh Nguyễn Văn T, chị Phạm Thị H1 cùng có hành vi mua Mô tơ cửa cuốn do bị cáo bán. Khi bán Mô tơ, bị cáo D nói Mô tơ của Công ty nơi D làm việc không dùng đến, nên mang đi bán. Anh T, chị H1 đều không biết các Mô tơ trên do D trộm cắp mà có. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với anh T, chị H1.

Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSĐS ngày 18/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Ngày 27/8/2024, bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền 3.700.000 đồng (số tiền anh T, chị H1 đã trả bị cáo khi mua Mô tơ do bị cáo bán) để bồi thường anh T, chị H1 theo Biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/23, số 0005614 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

Ngày 28/8/2024, chị H1 nộp 01 đơn đề nghị ghi ngày 23/8/2024 về việc “xin vắng mặt tại phiên tòa; không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 19.132.000 đồng chị đã tự nguyện giao nộp (tương ứng với giá trị 04 Mô tơ theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản) do chị đã bán, không thu hồi được, để bồi thường bị hại; yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.800.000 đồng chị đã trả bị cáo khi mua Mô tơ do bị cáo bán, chị không biết đó là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có”.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ về việc đã 05 lần thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, các tình tiết khác có liên quan như nội dung vụ án đã nêu và khai: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” bị cáo không bàn bạc, không nói với ai, không có ai cùng giúp sức trong khi “Trộm cắp tài sản, tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có”, số tiền do phạm tội mà có bị cáo chi tiêu cá nhân hết, không chia, không cho ai. Việc bị cáo sử dụng xe của cha mẹ đẻ bị cáo để đi “Trộm cắp tài sản”, cha mẹ bị cáo đều không biết. Anh T, chị H1 đều không biết các Mô tơ bị cáo mang bán là tài sản do bị cáo trộm cắp được mà có. Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, làm lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, không có nguồn thu nào khác như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng; đề xuất với Hội đồng xét xử về loại hình phạt, mức hình phạt, xử lý vật chứng, các vấn đề khác trong vụ án như sau:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn D từ 27 (hai mươi bảy) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 (năm mươi tư) đến 60 (sáu mươi) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 Cờ lê cỡ số 17 bằng kim loại, dài 21 cm.
    • + Trả lại: Bị hại 06 Mô tơ cửa cuốn nhãn hiệu YH-300 do Đài Loan sản xuất, số tiền 19.132.000 đồng (tương ứng với giá trị của 04 Mô tơ cửa cuốn không thu hồi được); trả lại ông Nguyễn Văn K (sinh năm 1980, nơi cư trú: Khu A, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh) xe Mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đen, Biển kiểm soát 14K1- 105.89, do ông K không biết việc D sử dụng xe Mô tô để trộm cắp tài sản.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo D phải bồi thường anh T 900.000 đồng, bồi thường chị H1 2.800.000 đồng.
  • - Về án phí:
  • Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • Về hành vi mua Mô tơ cửa cuốn của anh Nguyễn Văn T và chị Phạm Thị H1: Khi bán mô tơ, D nói Mô tơ của Công ty nơi D làm việc, không dùng đến nên mang đi bán. Anh T, chị H1 không biết số Mô tơ trên do D trộm cắp mà có. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xử lý là đúng.

Sau khi đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của bị hại; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do (chị H1 có đơn xin vắng mặt). Tuy nhiên, họ đã có lời khai đầy đủ, phù hợp với lời khai của bị cáo; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xác định, sự vắng mặt đó không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ như đề nghị của bị cáo, Kiểm sát viên tại phiên tòa theo quy định tại các điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

· Về tội danh, điều luật áp dụng:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng vật chứng thu giữ, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Trong thời gian từ ngày 01/12/2023 đến ngày 24/12/2023, tại Dự án Khu D, thuộc tổ dân phố số H, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Bị cáo Nguyễn Văn D 05 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản gồm 10 Mô tơ cửa cuốn (mỗi lần 02 Mô tơ có giá 4.783.000 đồng/Mô tơ) tại 06 căn biệt thự liền kề do Công ty cổ phần X đang thi công tại Công trường. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung:

[3] Với hành vi nêu trên của bị cáo, xác định: Bị cáo chiếm đoạt tài sản gồm 10 Mô tơ (4.783.000 đồng/Mô tơ), có tổng giá trị 47.830.000 đồng theo kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 26/91/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Đ. Nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng....”. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo 05 lần thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, mỗi lần 02 Mô tơ có giá trị 4.783.000 đồng/Mô tơ. Nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền 3.700.000 đồng để bồi thường anh T, chị H1; 06/10 Mô tơ bị chiếm đoạt đã được thu hồi, chị H1 đã tự nguyện giao nộp số tiền 19.132.000 đồng tương ứng với giá trị 04 Mô tơ không thu hồi được do chị đã bán cho người không quen biết (4.783.000 đồng/Mô tơ theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản) để bồi thường bị hại, chị không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền này. Do đó, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

[6] Về hình phạt chính: Từ những phân tích về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đánh giá hành vi phạm tội "Trộm cắp tài sản" của bị cáo thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của pháp nhân được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong việc quản lý tài sản trong nhân dân. Theo những phân tích tại mục [5] nêu trên, thấy nên cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật để được giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Xác định loại hình phạt: Từ những phân tích nêu trên, thấy không cần thiết bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian, đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt cải tạo ngoài xã hội, cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[6.1] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, do bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, không có nguồn thu nào khác. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ, được chấp nhận nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.

- Về các biện pháp tư pháp:

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

[7.1] Tịch thu tiêu huỷ: 01 Cờ lê cỡ số 17 bằng kim loại, dài 21 cm.

[7.2] Trả lại: Bị hại 06 Mô tơ cửa cuốn nhãn hiệu YH-300 do Đài Loan sản xuất và số tiền 19.132.000 đồng (tương ứng với giá trị của 04 Mô tơ cửa cuốn không thu hồi được); trả lại anh Nguyễn Văn K (sinh năm 1980, nơi cư trú: Khu A, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đen, Biển kiểm soát 14K1- 105.89, do anh không biết việc D sử dụng xe Mô tô thuộc sở hữu hợp pháp của vợ chồng anh để trộm cắp tài sản (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn và Ủy nhiệm chi ký hiệu C4-02a/NS số 07 ngày 23/7/2024 tại Kho bạc Nhà nước N1).

[8] Về trách nhiệm dân sự: Chị H1 đã tự nguyện giao nộp số tiền 19.132.000 đồng do chị đã bán 04 Mô tơ, không thu hồi được (4.783.000 đồng/Mô tơ theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản) để bồi thường bị hại, chị không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền này. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về trách nhiệm của bị cáo trong việc bồi thường bị hại giá trị 04 Mô tơ đó.

[8.1] Buộc bị cáo D phải nộp lại số tiền 3.700.000 đồng để bồi thường anh T 900.000 đồng, bồi thường chị H1 2.800.000 đồng. Tuy nhiên, ngày 27/8/2024, bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền 3.700.000 đồng để bồi thường anh T, chị H1 theo Biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/23, số 0005614 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Bị cáo đã nộp đủ số tiền bồi thường nêu trên, nên không phải nộp nữa.

- Các vấn đề khác:

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[11] Về các tình tiết khác có liên quan: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý, không xử lý đều có căn cứ, đúng pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, không giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Về hình phạt chính:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 27 (hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 54 (năm mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:

“Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt: UBND) cấp xã; trường hợp không đồng ý thì UBND cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của UBND cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, UBND cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho UBND cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.”

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về hình phạt bổ sung: Không phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 Cờ lê cỡ số 17 bằng kim loại, dài 21 cm.
  • + Trả lại: Bị hại (Công ty cổ phần X) được nhận lại 06 Mô tơ cửa cuốn nhãn hiệu YH-300 do Đài Loan sản xuất và số tiền 19.132.000đ (mười chín triệu, một trăm ba mươi hai nghìn đồng); trả lại anh Nguyễn Văn K (sinh năm 1980, nơi cư trú: Khu A, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh) 01 xe Mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đen, Biển kiểm soát 14K1- 105.89 theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn và Ủy nhiệm chi ký hiệu C4-02a/NS số 07 ngày 23/7/2024 tại Kho bạc Nhà nước N1.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo D phải bồi thường anh T 900.000 đồng, bồi thường chị H1 2.800.000 đồng theo Biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/23, số 0005614 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện theo uỷ quyền của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh T, chị H1 có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7ª và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Đồ Sơn, TPHP;
  • - Công an quận Đồ Sơn, TPHP;
  • Phòng PV 06 - Công an TPHP;
  • - Cơ quan THAHS cấp huyện;
  • Phòng PC 10 - Công an TPHP;
  • Chi cục THADS quận Đồ Sơn, TPHP;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo, bị hại, người đại diện theo ủy quyền của bị hại; những người có QL, NVLQ đến vụ án;
  • - UBND phường Hải Hòa, TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nguyễn Đức Hoàng

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D - Trộm cắp Tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger