Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 35/2024/DS-ST

Ngày 17 - 6 - 2024

V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU- TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng

Các hội thẩm nhân dân: Bà Dư Thị Út .

Bà Khưu Liên Dung.

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu: Bà Trần Mỹ Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 483/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1960; Địa chỉ: Số B, đường C, Khóm I, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Ông Phan Văn N, sinh năm 1983; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Chỗ ở hiện nay: Nhà không số, đường tránh Quốc Lộ A, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vưu Ngọc H, sinh năm 1989; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số I, Khóm C, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Chỗ ở hiện nay: Nhà không số, đường tránh Quốc Lộ A, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Ông T, ông N, bà H vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 01/11/2023 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Hữu T trình bày:

- Ngày 10/02/2023 ông Nguyễn Hữu T có cho ông Phan Văn N vay số tiền là 400.000.000 đồng, thỏa thuận miệng lãi suất là 2,5%/tháng, hai bên có viết biên nhận và ông N có ký tên và lăng tay, cam kết trong thời hạn 30 ngày sẽ trả cho ông T, khi đó ông N có cầm tin đưa cho ông T giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 01 giấy chứng nhận đăng ký ô tô số 001392, mang biển kiểm soát 94C-009.71. Đến khoảng tháng (sau ngày 24/02/2023) ông N có trả cho ông Nguyễn Hữu T được 200.000.000 đồng tiền gốc và ông T đã giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N, ông N còn nợ lại ông T số tiền 200.000.000 đồng và ông T tiếp tục giữ giấy chứng nhận đăng ký ô tô số 001392, mang biển kiểm soát 94C-009.71 để làm lòng tin, ông N cam kết 30 ngày có tiền sẽ trả cho ông T nếu không thì ông N sẽ ra Văn phòng công chứng để làm thủ tục chuyển nhượng chiếc xe ô tô tải hiệu Suzuki, màu trắng, mang biển kiểm soát 94C-009.71 cho ông T. Tuy nhiên, ông N vẫn không thực hiện, sau đó mặc dù ông T đã liên tục gặp ông N để yêu cầu trả tiền nhưng ông N cứ hứa lần, hứa lựa.

- Tiếp đến ngày 24/02/2023 ông Phan Văn N tiếp tục lại gặp ông Nguyễn Hữu T để hỏi vay thêm 50.000.000 đồng để ông N xoay sở công việc và cam kết trong thời hạn 15 ngày sẽ thanh toán hết tổng số tiền 2 lần vay là 450.000.000 đồng, hai bên có làm tờ giấy vay tiền để làm tin. Đối với số tiền vay 50.000.000 đồng này thì thỏa thuận lãi suất là 2,5%/tháng, tuy nhiên tới hiện tại ông N vẫn không thanh toán cho ông T.

Nay ông Nguyễn Hữu T yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc cá nhân ông N phải trả tổng số tiền còn nợ cho ông T là 250.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/11/2023 (ngày nộp đơn khởi kiện) cho đến khi ông N thanh toán hết số tiền cho ông, kể cả tiền lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án theo mức lãi suất là 20%/năm. Đối với khoảng thời gian từ ngày 01/11/2023 trở về trước thì ông không có yêu cầu tính lãi gì.

- Bị đơn ông Phan Văn N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vưu Ngọc H vắng mặt tại phiên tòa, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông N, bà H không đến tòa án tham gia tố tụng cũng như gửi văn bản ý kiến phản hồi nào về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ theo thủ tục tố tụng và các văn bản có liên quan nên về hình thức tố tụng Viện kiểm sát xét

thấy bảo đảm đủ điều kiện và hợp pháp. Nguyên đơn đã chấp hành và xin vắng mặt theo quy định pháp luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án làm việc, không có mặt khi triệu tập tham gia phiên tòa là chưa chấp hành theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Bị đơn ông Phan Văn N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vưu Ngọc H không đến Tòa án làm việc, ông N biết việc khởi kiện của nguyên đơn nhưng không phản đối yêu cầu của nguyên đơn, căn cứ Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu T, buộc ông Phan Văn N có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Hữu T số tiền vốn vay là 250.000.000 đồng và tiền lãi là 31.263.333 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Hữu T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phan Văn N trả nợ vay nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo biên bản xác minh ngày 11/12/2023 tại Công an P, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu xác định bị đơn ông N đang sinh sống và làm việc tại Nhà không số, đường T Quốc lộ A, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

[2] Xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

Về thời hiệu khởi kiện: Tại biên nhận vay tiền 400.000.000 đồng giữa ông T và ông N ký kết ngày 10/02/2023 và biên nhận vay tiền 50.000.000 giữa ông T và ông N ký kết ngày 24/02/2023, tính đến ngày khởi kiện là chưa hết 03 năm nên căn cứ Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn còn thời hiệu khởi kiện.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu T: Ông T xác định vào ngày 10/02/2023 cho ông Phan Văn N vay số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận miệng là 2,5%/tháng và cam kết trong thời hạn 30 ngày ông N sẽ trả lại, để làm lòng tin thì ông N có đưa cho ông T 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 01 giấy chứng nhận đăng ký ô tô số 001392, mang biển kiểm soát 94C-009.71, ông N có viết

biên nhận ký tên và lăng tay. Sau đó khoảng một tháng (sau ngày 24/02/2023) thì ông N có trả được cho ông T số tiền là 200.000.000 đồng và ông T đã trả lại 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N. Tiếp đến ngày 24/02/2023 ông N tiếp tục vay thêm của ông T số tiền là 50.000.000 đồng để ông N xoay sở trong công việc, lãi suất thỏa thuận miệng là 2,5%/tháng và cam kết trong thời hạn 15 ngày sẽ trả cho ông T. Ngoài ra trong giấy vay tiền thì ông N có ghi tên vợ là bà Vưu Ngọc H cùng vay tiền của ông T, nhưng bà H không có ký tên vào biên nhận, đồng thời ông T xác định đây là khoản vay cá nhân của ông N, không có liên quan gì đến bà Vưu Ngọc H.

Khi vay tiền thì ông N đã viết biên nhận cho ông T và ông T đã giao nộp cho Tòa án. Từ khi vay tiền cho đến nay đã hết thời hạn trả tiền nhưng ông N không trả được khoản nào cho ông T, mặc dù ông T đã nhiều lần yêu cầu ông N trả nhưng Ngoan cố tình lẫn trốn không có thiện chí trả tiền.

[3.1] Xét hợp đồng vay: Ông Nguyễn Hữu T xác định vào ngày 10/02/2023 cho ông Phan Văn N vay số tiền 400.000.000 đồng và ngày 24/02/2023 cho ông Phan Văn N, vay số tiền là 50.000.000 đồng, các bên thỏa thuận lãi suất là 2,5%/tháng, ông N đã trả được cho ông T số tiền 200.000.000 đồng, nay ông N còn nợ ông T số tiền là 250.000.000 đồng, khi vay ông N đã viết biên nhận cho ông T giữ và ông T đã giao nộp cho Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phan Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải đến khi xét xử nhưng đều vắng mặt và không rõ lý do, nên không có ý kiến của ông Phan Văn N đối với yêu cầu khởi kiện của ông T. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự “2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Như vậy, có căn cứ xác định giữa ông Nguyễn Hữu T và ông Phan Văn N là có phát sinh giao dịch hợp đồng vay tiền nên Hội đồng xét xử căn cứ các quy định pháp luật về hợp đồng vay tài sản để giải quyết vụ án.

Đối với tờ giấy vay tiền ngày 24/02/2023 mặc dù ông N có ghi tên vợ là bà Vưu Ngọc H có mượn tiền của ông Nguyễn Hữu T nhưng ông T xác định khoản vay này là cá nhân của ông N vay và chỉ có một mình ông N ký tên và lăng tay nên ông T chỉ yêu cầu một mình ông N trả nợ, không yêu cầu bà H cùng có trách nhiệm trả nợ với ông N. Hội đồng xét xử, xét thấy đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn và theo giấy vay tiền chỉ có ông N ký tên và lăng tay nên có căn cứ xác định đây là khoản vay cá nhân của ông N.

[3.2] Về tiền vốn: Ông Nguyễn Hữu T yêu cầu ông Phan Văn N trả số tiền nợ vốn vay là 250.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy, tại Giấy vay tiền đề ngày 10/02/2023 và giấy vay tiền đề ngày 24/02/2023, ký tên và lăng tay bị đơn ông Phan Văn N ghi nhận có vay vốn 250.000.000 đồng và bị đơn không có ý kiến phản đối

như đã phân tích tại mục [3.1]. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 466 của Bộ Luật dân sự chấp nhận yêu cầu của ông T, buộc ông Phan Văn N có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Hữu T số tiền vay vốn là 250.000.000 đồng.

[3.3] Về lãi suất: Ông Nguyễn Hữu T xác định khi vay có thỏa thuận miệng lãi suất 2,5%/tháng và từ khi vay đến nay ông N không có trả khoản lãi nào cho ông T, ngoài ra ông N không có ý kiến gì nên có căn cứ xác định đây là khoản vay có lãi. Ông T yêu cầu ông N có trách nhiệm trả tiền lãi tính từ ngày 01/11/2023 cho đến khi trả xong khoản nợ vay theo mức lãi suất là 20%/năm. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của ông N buộc ông T có trách nhiệm tiền lãi cho ông T từ ngày 01/11/2023 đến ngày xét xử 17/6/2024 là 250.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 07 tháng 16 ngày = 31.263.333 đồng.

[3.4] Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 001392, biển kiểm soát 94C-009.71 của Phòng C Công an tỉnh B cấp cho ông Phan Văn N hiện nay ông Nguyễn Hữu T đang giữ, do ông N không có ý kiến và không yêu cầu đối với giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô trên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Ông N được quyền yêu cầu ông T trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô trên nếu có yêu cầu trong một vụ án khác.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Hữu T được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Phan Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 14.478.167 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[5] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng vào Điều 5; Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Áp dụng vào Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu T với ông Phan Văn N.

2/. Buộc ông Phan Văn N có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Hữu T tổng số tiền nợ vay là 281.263.333 đồng (Hai trăm tám mươi mốt triệu, hai trăm sáu mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng). Trong đó: Nợ gốc là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi tính đến ngày 17/6/2024 là 31.263.333 đồng (Ba mươi mốt triệu, hai trăm sáu mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng người phải thi hành án cón phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

3/. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Phan Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 14.063.167 đồng (Mười bốn triệu, không trăm sáu mươi ba nghìn, một trăm sáu mươi bảy đồng) và nộp tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

4/. Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5/. Án xử công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Công Bằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/DS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 35/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger