|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày: 26 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Toàn
Ông Nguyễn Văn Thuận
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đệ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng Thái N, sinh ngày 05/6/1984, tên gọi khác: không, nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số G, Tổ A, ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1 (chết) và Nguyễn Thị Á sinh năm 1965 (chết); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ con chưa có; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự, tại Quyết định số 245/QĐ-TA ngày 05/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 20/11/2021; về nhân thân: ngày 01/6/2009, bị Công an xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất an ninh trật tự với số tiền phạt 350.000 đồng, đã đóng phạt xong; ngày 06/12/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 04 (bốn) năm tù về “Tội cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 28/02/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/10/2023 đến ngày 06/01/2024 và từ ngày 15/3/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Yến N2 – Luật sư thuộc đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).
- Bị hại: Hồ Tấn T, sinh năm 1968. Nơi cư trú: số E, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- Người làm chứng: Trần Văn T1, sinh năm 1992. Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 08/10/2023, Nguyễn Hoàng Thái N đi bộ trên tuyến lộ nhựa La M theo hướng từ xã T đến chợ S thuộc địa phận xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. Khi đi ngang đại lý vé số T3 do ông Trần Văn T2 tại ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre làm chủ, Nguyên phát hiện xe mô tô biển số 71B1-069.38 của anh Hồ Tấn T, sinh năm 1968 đang dựng trên lộ nhựa nhưng không có ai trông coi nên N liền dắt trộm xe mô tô của anh T để bán lấy tiền tiêu xài. Trên đường đi, N tháo biển số và kính chiếu hậu bên trái xe ra ném bỏ. Cùng lúc này, Công an xã H nhận được tin báo anh Hồ Tấn T mất trộm xe nên tổ chức tìm kiếm. Đến 21 giờ cùng ngày, Công an xã H phát hiện N đang dẫn xe mô tô biển số 71B1-069.38 của anh T ở khu vực Tổ B, ấp H, xã H, huyện G nên lập Biên bản sự việc và báo ngay cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G thụ lý theo thẩm quyền.
Vật chứng tạm giữ:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại NOUVO, màu N3-Vàng-Bạc, số khung P1109Y113646, số máy 5P11-113648; 01 kính chiếu hậu bên trái và biển số 71B1-069.38 và 01 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 71B1-069.38 do Nguyễn Thị Quỳnh G đứng tên chủ sở hữu (Giao bán xe cho anh T); đã trả lại cho anh Hồ Tấn T.
- 01 áo chất liệu bằng da, loại áo tay ngắn, màu đen; 01 quần đùi chất liệu vải, sọc ca rô màu đỏ đen là trang phục N sử dụng lúc lấy trộm xe; đang tạm giữ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐG ngày 16/10/2023, Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện G kết luận: 01 xe mô tô biển kiểm soát 71B1-069.38, màu nâu-vàng-bạc, nhãn hiệu Yamaha, loại NOUVO, số khung P1109Y113646, số máy 5P11-113648 giá 4.000.000 đồng.
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 22/KL-VPYTW ngày 09/01/2024 của V đối với Nguyễn Hoàng Thái N:
- Về Y học: trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị bệnh Chậm phát triển tâm thần nhẹ (F70 – ICD.10).
- Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi:
- + Tại thời điểm gây án và hiện nay: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Quá trình điều tra, Nguyên khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên, lời khai của N phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyên k nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng đã truy tố.
Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt, trong nội dung đơn xác định về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, về trách nhiệm hình sự có yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 34/CT-VKS-GT, ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre truy tố Nguyễn Hoàng Thái N về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Thái Nguyên p “Tội trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm hình sự: áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, q, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Thái N có mức án từ 01 năm đến 01 năm 09 tháng tù, nhưng được trừ đi thời gian đã tạm giam là 03 tháng (từ ngày 09/10/2023 đến ngày 06/01/2024). Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024.
Hình phạt bổ sung: không.
- Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: căn cứ điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả cho bị hại Hồ Tấn H 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại NOUVO, màu nâu-vàng-bạc, số khung P1109Y113646, số máy 5P11-113648; 01 kính chiếu hậu bên trái và biển số 71B1-069.38 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 71B1-069.38.
- + Đối với: 01 áo chất liệu bằng da, loại áo tay ngắn, màu đen; 01 quần đùi chất liệu vải, sọc ca rô màu đỏ đen là trang phục N sử dụng lúc lấy trộm xe, hiện không còn giá trị sử dụng và bị cáo cũng không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu và tiêu hủy.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: thống nhất với tội danh truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm đối với bị cáo về “Tội trộm cắp tài sản” thống nhất về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát đã đề nghị cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, q, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Thái N với mức án thấp nhất của Viện kiểm kiểm sát đã đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa người làm chứng, bị hại đều vắng mặt, đối với bị hại vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Về tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại đã được thu hồi trả lại cho bị hại và bị hại không còn yêu cầu gì khác. Đồng thời trong quá trình điều tra người làm chứng và bị hại đã có lời khai rõ ràng, xét thấy sự vắng mặt của người làm chứng, bị hại không làm trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp vớ lời khai của bị cáo trong qua trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: khoảng 20 giờ 00 phút ngày 08/10/2023, tại ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Hoàng Thái N có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 71B1-069.38 trị giá 4.000.000 đồng của anh Hồ Tấn T.
Bị cáo N thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, về năng lực trách nhiệm hình sự: về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi tại thời điểm gây án và hiện nay đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Tuy nhiên, bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của bị cáo. Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng Thái Nguyên p "Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: xuất phát từ động cơ vụ lợi cá nhân, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại với mục đích bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân, hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, đối với bị cáo cần xét xử nghiêm theo quy định của pháp luật.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo có một tiền sự, nên xác định bị cáo có nhân thân xấu. Ngoài tình tiết định tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo phạm tội khi đang có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nên được xem xét giảm nhẹ theo điểm h, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Qua cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có nhân thân xấu. Do vậy, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để tiếp tục cải tạo, giáo dục bị cáo để sau này trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để răn đe phòng ngừa tội phạm.
[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã xử lý vật chứng: trả cho bị hại Hồ Tấn H 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại NOUVO, màu nâu-vàng-bạc, số khung P1109Y113646, số máy 5P11-113648; 01 kính chiếu hậu bên trái và biển số 71B1-069.38 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 71B1-069.38. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G là phù hợp với quy định của pháp luật nên được ghi nhận.
- Đối với: 01 áo chất liệu bằng da, loại áo tay ngắn, màu đen; 01 quần đùi chất liệu vải, sọc ca rô màu đỏ đen là trang phục N sử dụng lúc lấy trộm xe, hiện không còn giá trị sử dụng và bị cáo có ý kiến không nhận lại, nên xét nên tịch thu và tiêu hủy.
[9] Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị hại sau khi đã nhận lại tài sản bị cáo chiếm đoạt và không còn yêu cầu bồi thường gì khác.
[10] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đới với bị cáo, về xử lý vật chứng trong vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[11] Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo: về điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[12] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng Thái N là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Thái Nguyên p“Tội trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ điểm 1 Điều 173; điểm h, q, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Thái N 01(một) năm tù, nhưng được trừ đi thời gian đã tạm giam trước là 03 (ba) tháng (từ ngày 09/10/2023 đến ngày 06/01/2024). Thời hạn còn lại bị cáo phải chấp hành là 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024.
- Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: căn cứ điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 áo chất liệu bằng da, loại áo tay ngắn, màu đen; 01 quần đùi chất liệu vải, sọc ca rô màu đỏ đen (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/7/2024 giữa Công an huyện G và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).
- Về án phí: căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Hoàng Thái N được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Huệ |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về hình sự - tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội trộm cắp tài sản
