TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày 26 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Thái - Ông Trần Đức
Thư ký phiên toà: Bà Phan Thanh Thúy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Lương Quốc Danh - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 36/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 04 năm 2024, đối với các bị cáo:
1- Họ và tên: Đặng Văn Đ, Sinh ngày 12/4/2004 tại: Huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; con ông Đặng Văn T, sinh năm 1972 và bà Đồng Thị T1, sinh năm 1987; anh em ruột: Có 4 người; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 11/01/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
2- Họ và tên: Lê Nhựt H, Sinh ngày 08/12/1997 tại: Huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính : Nam; tôn giáo: Đạo Phật; con ông Lê Văn B, sinh năm 1969 và bà Võ Thị H1, sinh năm 1969; anh em ruột: Có 2 người; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 25/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 01 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, đến ngày 14/6/2022 chấp hành xong; tiền sự: Không; Bị cáo Lê Nhựt H bị tạm giam từ ngày 11/01/2024 đến nay hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).
Bị hại: Anh Dương Thanh T2, sinh năm 1976; trú tại Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang và anh Đào Văn T3, sinh năm 1977, trú tại: Khóm F thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (đều vắng mặt).
Người làm chứng gồm ông: Nguyễn Hoàng Q (vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1994; địa chỉ Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; anh Nguyễn Thành T5, sinh năm 1990; địa chỉ Khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang.
Người phiên dịch cho bị cáo Đặng Văn Đ: Ông Liêu K; Địa chỉ: thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/01/2024, anh Dương Thanh T2 dựng xe mô tô biển số 67M1-138.91 trong sân nhà ở khóm T, thị trấn Ó, huyện T, đến sáng ngày 08/01/2024, T2 đi vệ sinh phát hiện xe mô tô bị mất nên đến Công an thị trấn Ó, huyện T trình báo.
Ngày 11/01/2024, Công an thị trấn Ó mời Đặng Văn Đ và Lê Nhựt H làm việc thì cả hai khai nhận: Khoảng 02 giờ ngày 08/01/2024, Đ đi bộ một mình đến nhà của T2 phát hiện cửa rào không khóa, xe mô tô biển số 67M1-138.91 dựng trong sân nhà, có ghim sẵn chìa khóa trên xe nên Đ đi vào dẫn xe ra ngoài bật khóa nổ máy, Đ điều khiển xe trộm được đến nhà của Lê Nhựt H nhờ đem xe đi bán, H biết rõ xe mô tô Đen trộm nhưng vẫn đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 67M1-138.91 đến tiệm mua bán phế liệu của Nguyễn Thanh T6 (T7) ở khóm T, thị trấn Ó, huyện T bán theo giá phế liệu 10.000đồng/kg, trọng lượng 85kg, được 850.000 đồng, H được T6 cho thêm 50.000 đồng. Sau đó, T6 điều khiển xe chở H về nhà, đưa 900.000 đồng cho Đ. Hào được cho 200.000 đồng và Đ đưa H thêm 500.000 đồng để H đi mua ma túy của người không rõ nhân thân đem về khu nhà bỏ hoang gần nhà H sử dụng, số tiền còn lại Đen tiêu xài cá nhân hết.
Quá đình điều tra còn xác định được, khoảng 15 giờ ngày 31/12/2023, Đ đi bộ đến khu vực cầu T ở ấp K, xã B, huyện T phát hiện xe mô tô biển số 51T1-4040 của Đào Văn T3 có ghim sẵn chìa khóa trên xe, không có người trông giữ nên Đ lấy trộm điều khiển xe mô tô đến nhà của H nhờ đem xe bán. H biết rõ xe mô tô của Đ lấy trộm nhưng vẫn đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 51T1-4040 đến tiệm mua bán phế liệu của Nguyễn Văn T4 ở khóm T, thị trấn Ó, huyện T bán xe theo giá phế liệu 8.000 đồng/kg, trọng lượng 95kg, được 760.000 đồng, T4 cho H thêm 40.000 đồng. H về nhà đưa lại 800.000 đồng cho Đ chơi game hết.
Tang vật thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 51T1-4040; Số máy: NCE-1129687; Số khung: NC 163-30844; 01 xe mô tô biển số 67M1-138.91; Số máy: OFMH00027991; Số khung: HO22LK027991.
Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Tại kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 19/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 xe mô tô biển số 51T1-4040; Nhãn hiệu Honda; Loại xe ASTREA; Số máy NCE-1129687; Số khung NC 163-30844, dung tích xi lanh 97cm³, trị giá 6.250.000 đồng; 01 xe mô tô biển số 67M1-138.91; Nhãn hiệu LISOHAKA; Số máy OFMH00027991; Số khung HO22LK027991, dung tích xi lanh 108cm³, trị giá 6.000.000 đồng. Tổng tài sản trị giá 12.250.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Dương Thanh T2, Đào Văn T3 yêu cầu nhận lại xe mô tô và xử lý các bị cáo theo quy định pháp luật
Nguyễn Văn T4, Nguyễn Thành T5 trình bày như nội dung vụ án đã nêu. T2, T3, không yêu cầu H, Đ trả lại số tiền mua xe. T4, T5 không biết xe mô tô này do phạm tội mà có.
Nguyễn Hoàng Q trình bày: Xe mô tô biển số 51T1-4040 do Q đứng tên chủ sở hữu. Đến năm 2019, Q bán xe lại cho người không rõ nhân thân nhưng không làm hợp đồng mua bán sang tên chủ sở hữu. Xe đã bán nên Q không yêu cầu gì.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Đặng Văn Đ và Lê Nhựt H khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Trần Văn B1, Trần Văn V, S, Trương Thanh H2 Tại Cáo trạng số: 33/CT-VKSTS-HS ngày 04/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố Đặng Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố Lê Nhựt H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Đặng Văn Đ và Lê Nhựt H vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại và người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Về hình phạt bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Còn về phần trách nhiệm dân sự, bị hại yêu cầu được nhận lại xe.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn Đ từ 01 năm đến 02 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1,2 Điều 51; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Nhựt H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
Buộc bị cáo Đặng Văn Đ giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.500.000đ, bị cáo Lê Nhựt H giao nộp lại 200.000đ thu lợi bất chính.
Trả lại 01 xe mô tô biển số 51T1-4040; Số máy: NCE-1129687; Số khung: NC 163-30844 cho bị hại Đào Văn T3 và 01 xe mô tô biển số 67M1-138.91; Số máy: OFMH00027991; Số khung: HO22LK027991 cho bị hại Dương Thanh T2.
Các bị cáo Đặng Văn Đ và Lê Nhựt H không có tranh luận và bào chữa gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Sáng ngày 08/01/2024, Đ đi bộ một mình đến nhà của T2 phát hiện cửa rào không khóa, xe mô tô biển số 67M1-138.91 dựng trong sân nhà, có ghim sẵn chìa khóa trên xe nên Đ đã có hành vi lén lút đi vào dẫn xe ra ngoài bật khóa nổ máy chạy đi. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, bị cáo Đ nói rõ cho bị cáo H biết đó là tài sản do phạm tội mà có nhưng H vẫn đồng ý cùng Đ đi tiêu thụ tài sản. Quá đình điều tra còn xác định được, khoảng 15 giờ ngày 31/12/2023, Đ đi bộ đến khu vực cầu T ở ấp K, xã B, huyện T phát hiện xe mô tô biển số 51T1-4040 của Đào Văn T3 có ghim sẵn chìa khóa trên xe, không có người trông giữ nên Đ đã có hành vi lén lút điều khiển xe mô tô đến nhà của H nhờ đem xe bán. H biết rõ xe mô tô của Đ lấy trộm nhưng vẫn đồng ý đem đi tiêu thụ, cả hai cùng lấy tiền tiêu xài.
Hành vi nêu trên của bị cáo Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).
Hành vi nêu trên của bị cáo H đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo Đ và bị cáo H đều là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện. Trong vụ án này, hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, đồng phạm giản đơn, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt được tài sản và mang đi tiêu thụ
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân vì phải thường xuyên đề cao cảnh giác. Vì vậy khi lượng hình cần phải áp dụng mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đ, H phạm tội 02 lần trở lên áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo H đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng. Tại khoản 5 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, các bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn T4, Nguyễn Thành T5 không yêu cầu H, Đ trả lại số tiền mua xe. T4, T5 không biết xe mô tô này do phạm tội mà có.
[7] Về vật chứng: Trả lại 01 xe mô tô biển số 51T1-4040; Số máy: NCE-1129687; Số khung: NC 163-30844 cho bị hại Đào Văn T3 và 01 xe mô tô biển số 67M1-138.91; Số máy: OFMH00027991; Số khung: HO22LK027991 cho bị hại Dương Thanh T2.
Buộc bị cáo Đặng Văn Đ giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.500.000đồng.
Buộc bị cáo Lê Nhựt H giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính 200.000đồng.
[8] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Lê Nhựt H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (10/01/2024).
2. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Nhựt H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại 01 xe mô tô biển số 51T1-4040; Nhãn hiệu Honda; loại xe ASTREA; Màu sơn: Nho; dung tích xilanh: 97 cm³ ; Số máy: NCE-1129687; Số khung: NC 163-30844 cho bị hại Đào Văn T3 và trả 01 xe mô tô biển số 67M1-138.91; Nhãn hiệu LISOHAKA; Loại xe : Hai bánh; Màu sơn đỏ; dung tích xilanh: 108cm³ Số máy: OFMH00027991; Số khung: HO22LK027991 cho bị hại Dương Thanh T2.(Đặc điểm tang vật như Quyết định chuyển vật chứng số 20 ngày 03/4/2024).
Buộc bị cáo Đặng Văn Đ giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.500.000đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng).
Buộc bị cáo Lê Nhựt H giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Đ, bị cáo H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thu Hằng |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ TPCMT
