Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/DS-PT

Ngày 26-02-2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thương

Các Thẩm phán: Ông Trịnh Hoàng Anh

Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Công Trứ – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Doan - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 và 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 266/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 15/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 01 năm 2025; Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 26/2025/QĐPT- DS ngày 20 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty L (nay đổi tên thành Công ty L1).

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1967 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);

    Địa chỉ: H (lầu D) D, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Bà Đỗ Thị P, sinh năm 1976 (có mặt);

    Nơi đăng ký HKTT: Số G đường T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

    Chỗ ở hiện nay: C03 đường H, khu K, ấp P, xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • -Bà Nguyễn Mộng T, sinh năm 1984 (vắng mặt);
    • Địa chỉ: Số B đường B ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    • Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Nguyễn Quang V, sinh năm 2002 (có mặt);
    • Địa chỉ: 1 ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

    • - Ông Đỗ Ơ, sinh năm 1951 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
    • - Bà Võ Thị H, sinh năm 1955 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
    • Cùng địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  4. Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1975 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);

    Địa chỉ: C P, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

-Người kháng cáo: Công ty L1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Công ty L (nay đổi tên thành Công ty L1), người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Thanh N trình bày như sau:

Ngày 03 tháng 7 năm 2023, Chi nhánh Công ty L (gọi tắt là Bên A) ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 03.07/2023/HĐDVPL với bà Đỗ Thị P (gọi tắt là bên B). Theo đó bà P yêu cầu Bên A cử Luật sư, người đại diện theo ủy quyền cho ông Đỗ Ơ, bà Võ Thị H (là ba mẹ của bà P) tham gia tố tụng tại Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với nguyên đơn là ông Mai Xuân V2. Thù lao là 50.000.000đồng, bà P thanh toán cho bên A ngay sau khi ký hợp đồng.

Cùng ngày trên, ông Ơ, bà H ký Hợp đồng ủy quyền cho bà Nguyễn Mộng T là nhân viên của Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Chiến Binh tham gia giải quyết vụ án trên. Luật sư Nguyễn Thanh N và người đại diện theo ủy quyền là bà T đã làm đúng trách nhiệm, tham gia đúng quy trình tố tụng của vụ án. Vụ án do ông Ơ bà H kháng cáo nên hiện nay hồ sơ vụ án đã chuyển đến Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Ngày 04 tháng 12 năm 2023, Công ty L ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với bà T. Bên A yêu cầu bà P thay đổi người làm đại diện ủy quyền sang cho Luật sư N do bà T không còn là nhân viên của Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Chiến Binh nữa nhưng bà P nhất quyết không chấp nhận yêu cầu của Luật sư Năm, không hợp tác với Bên A theo như Hợp đồng dịch vụ đã ký kết.

Ngày 13 tháng 12 năm 2023, bà P yêu cầu chấm dứt Hợp đồng dịch vụ pháp lý số: 03.07/2023/HĐ DVPL đã ký ngày 03/07/2023, trả lại cho bà toàn bộ tài liệu hồ sơ vụ án và số tiền dịch vụ pháp lý theo hợp đồng là 50.000.000 đồng. Lý do bà P đơn phương chấm hợp đồng dịch vụ pháp lý là do Bên A gian dối nói rằng bà T có quan hệ vợ chồng với Luật sư N và cũng là Luật sư. Thực tế hiện nay theo như bà biết là bà T không phải là luật sư mà cũng không phải là vợ của ông N. Năng lực Luật sư Năm kém nên tại Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, ông Ơ bà H bị đơn thua kiện. Từ đó bà P không hợp tác với bên A, yêu cầu chấm dứt Hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Sau khi trả tài liệu hồ sơ vụ án, bà ép Luật sư N (tại quán C, lúc 09g00 ngày 13/12/2023, địa chỉ 642 Cách mạng T, phường P, thành phố B) phải trả lại ngay tiền phí dịch vụ hoặc ghi giấy nợ trong vòng 45 ngày phải trả. Nếu không ghi thì Luật sư N không được rời khỏi quán. Bà có gọi hai người thanh niên đến chứng kiến vụ việc.

Trong quá trình đàm phán giải quyết tranh chấp, bà P có những thái độ, lời nói, hành động xúc phạm đến Luật sư Năm. Hành vi của bà P vi phạm Điều 4 Hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký kết vào ngày 03/7/2023 với các nội dung như sau:

  • - Hợp tác chặt chẽ với Bên A trong suốt quá trình thực hiện công việc;
  • - Không được chấm dứt công việc nửa chừng khi Bên A còn đang tiến hành;
  • - Không được nhận lại tiền phí dịch vụ khi đã giao cho Bên A trong bất kỳ trường hợp nào kể cả khi bên B tự ý chấm dứt hợp đồng.

Bà P đã ép ông N phải ghi giấy hoàn trả lại phí dịch vụ là hoàn toàn không có cơ sở nhưng do tính chất vụ việc quá căng thẳng, ép ông N vào tình thế khó rời khỏi quán nên ông N buộc phải ký.

Nay Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Chiến Binh yêu cầu Toà án quyết những vấn đề sau đây:

  • + Huỷ bỏ giấy ghi hoàn trả lại tiền phí dịch vụ giữa Chi nhánh Công ty L với bà Đỗ Thị P vào ngày 13 tháng 12 năm 2023.
  • + Buộc bà Đỗ Thị P thực hiện đúng theo Điều 4 của Hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký kết vào ngày 03 tháng 07 năm 2023.
  • + Yêu cầu bà Đỗ Thị P công khai xin lỗi về những lời nói xúc phạm đến Luật sư Nguyễn Thanh N.

Bị đơn bà Đỗ Thị P trình bày:

Bà Đỗ Thị P thừa nhận lời trình bày của Công ty L về việc giữa bà và Chi nhánh Công ty L (bên A) có ký, cũng như thỏa thuận nội dung theo trong Hợp đồng dịch vụ pháp lý số 03.07/2023/HĐDVPL ngày 03-7-2023. Bà P đã giao đủ số tiền thù lao 50.000.000 đồng cho bên A.

Tại bản án số 39/2023/DS-ST ngày 23/10/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông V2 nên ông Ơ bà H kháng cáo đối với bản án trên.

Đến ngày 13/12/2023 tại thành phố B, bà P và ông Nguyễn Thanh N- người đại diện theo pháp luật Công ty L thỏa thuận Hủy hợp đồng dịch vụ pháp lý nêu trên, theo đó bà được trả lại toàn bộ tài liệu vụ án và số tiền 50.000.000 đồng, nhưng do ông N không mang theo tiền nên hứa sau 45 ngày kể từ ngày 13/12/2023 sẽ trả cho bà P và có viết giấy làm tin.

Nay Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Chiến Binh khởi kiện yêu cầu hủy bỏ giấy ghi hoàn tiền chi phí dịch vụ ngày 13/12/2023 thì bà P không đồng ý vì đó là sự tự nguyện của Công ty L.

Đối với yêu cầu tiếp tục thực hiện theo đúng Điều 4 của Hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký kết ngày 03/7/2023 thì bà P không đồng ý vì hai bên đã tự nguyện chấm dứt hợp đồng.

Đối với yêu cầu bà P công khai xin lỗi về những lời nói xúc phạm đến luật sư N thì bà cũng không đồng ý vì luật sư Năm bịa chuyện vu khống bà.

Bà P giữ nguyên yêu cầu phản tố là yêu cầu Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Chiến Binh hoàn trả cho bà số tiền 50.000.000 đồng tiền dịch vụ pháp lý theo nội dung giấy thỏa thuận giữa bà P và người đại diện theo pháp luật của Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Chiến Binh là ông N vào ngày 13/12/2023.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Mộng T do ông Nguyễn Quang V trình bày:

Khi bà Nguyễn Mộng T còn làm nhân viên Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Chiến Binh, bà T có ký Hợp đồng nhận ủy quyền, nhận làm người đại diện cho ông Đỗ Ơ, bà Võ Thị H theo Hợp đồng ủy quyền ngày 03/7/2023. Quá trình thực hiện hợp đồng, sau khi phiên tòa sơ thẩm kết thúc, bà T nghỉ việc tại Công ty L và được ông N là người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ. Khi nghỉ việc thì bà T có thông báo sự việc trên cho ông Ơ, bà H biết và hai bên cũng đồng ý chấm dứt Hợp đồng ủy quyền. Quá trình thực hiện hợp đồng hai bên không có thắc mắc, khiếu nại vấn đề gì trong phạm vi thực hiện đại diện theo ủy quyền của bà T.

Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Chiến Binh và yêu cầu phản tố của bà Đỗ Thị P thì bà T không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Ơ và bà Võ Thị H trình bày:

Ông Đỗ Ơ, bà Võ Thị H có ký Hợp đồng ủy quyền cho bà Nguyễn Mộng T là nhân viên Công ty L làm người đại diện theo ủy quyền cho ông Ơ, bà H tham gia tố tụng giải quyết vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với nguyên đơn ông Mai Xuân V2 tại Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, theo Hợp đồng ủy quyền ngày 03/7/2023. Quá trình thực hiện hợp đồng, sau khi phiên tòa sơ thẩm kết thúc, bà T nghỉ việc tại Công ty L. Khi nghỉ việc thì bà T có thông báo sự việc trên cho ông Ơ, bà H biết và hai bên cũng đồng ý chấm dứt Hợp đồng ủy quyền. Quá trình thực hiện hợp đồng hai bên không có thắc mắc, khiếu nại vấn đề gì trong phạm vi thực hiện đại diện theo ủy quyền của bà T. Vì lý do sức khỏe, ông Ơ, bà H xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

Người làm chứng ông Nguyễn Văn V1 trình bày:

Ông Nguyễn Văn V1 là bạn của ông Nguyễn Thanh N và bà Đỗ Thị P. Vào ngày 13/12/2023, bà P có gọi ông V1 ra uống cà phê, khi đó ông V1 mới biết giữa bà P và ông N có nói đến việc hai bên có ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý, nay hai bên không tìm được tiếng nói chung về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng thì ông V1 có khuyên hai bên là bạn bè nên giải quyết với nhau cho êm xuôi. Ông N có viết giấy cam kết sẽ trả lại số tiền 50.000.000đồng tiền dịch vụ pháp lý cho bà P sau 45 ngày và ông V1 có ký tên vào người làm chứng. Ông N viết giấy trên là hoàn toàn tự nguyện và không bị ai ép buộc. Ông V1 xin cam đoan những lời khai trên là đúng sự thật, chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 72/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đã tuyên xử:

  1. Đình chỉ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty L (nay đổi tên thành Công ty L1) đối với bà Đỗ Thị P về việc yêu cầu:
    • + Huỷ bỏ giấy ghi hoàn trả lại tiền phí dịch vụ giữa Chi nhánh Công ty L với bà Đỗ Thị P vào ngày 13 tháng 12 năm 2023.
    • + Buộc bà Đỗ Thị P thực hiện đúng theo Điều 4 của Hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký kết vào ngày 03 tháng 07 năm 2023.
    • + Yêu cầu bà Đỗ Thị P công khai xin lỗi về những lời nói xúc phạm đến Luật sư Nguyễn Thanh N.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đỗ Thị P, buộc Công ty L (nay đổi tên là Công ty L1) hoàn trả cho bà Đỗ Thị P số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) theo nội dung giấy ghi hoàn trả lại tiền phí dịch vụ đề ngày 13/12/2023.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 10-10-2024, nguyên đơn Công ty L (Nay là Công ty L1) kháng cáo bản án sơ thẩm với lý do Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là không có cơ sở, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại cấp phúc thẩm:

Nguyên đơn Công ty L (nay là Công ty L1) có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Bị đơn bà Đỗ Thị P giữ nguyên yêu cầu phản tố.

-Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn luật định. Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Nguyên đơn Công ty L (nay là Công ty L1); Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Ơ và bà Võ Thị H; Người làm chứng ông Nguyễn Văn V1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2, Khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, xử vắng mặt các ông bà trên.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Công ty L (nay là Công ty L1):

[2.1] Ngày 06-8-2024, Tòa án cấp sơ thẩm ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST- DS, ấn định thời gian xét xử vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 27-8-2024. Quyết định này được tống đạt thông qua dịch vụ bưu chính cho nguyên đơn Công ty L (nay là Công ty L1). Theo Phiếu báo phát bưu chính thể hiện tại mục người nhận có nét ký nhưng không ghi rõ họ tên.

Ngày 20-8-2024, ông N (đại diện nguyên đơn) có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bận công tác.

Tòa án cấp sơ thẩm ban hành quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/QĐST- DS ngày 27-8-2024, ấn định thời gian mở lại phiên tòa xét xử vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 11-9-2024. Quyết định hoãn phiên tòa được tống đạt cho nguyên đơn cũng thông qua dịch vụ bưu chính. Phiếu báo phát của bưu chính thể hiện tại mục người nhận có nét ký nhưng cũng không ghi rõ họ tên.

Tại phiên tòa ngày 11-9-2024, nguyên đơn vắng mặt.

Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2024/DSST ngày 11-9-2024, Tòa án nhân dân huyện Long Điền (nay là huyện L) đã đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do “Người đại diện theo pháp luật của Công ty L (nay đổi tên thành Công ty L1) là ông Nguyễn Thanh N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ”.

[2.2] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, ông Nguyễn Thanh N có văn bản cho rằng ông cùng nhân viên và bảo vệ công ty không nhận được văn bản tố tụng triệu tập nguyên đơn tham gia phiên tòa ngày 11-9-2024.

Hội đồng xét xử thấy rằng như đã nêu tại mục [2.1] thì không có cơ sở để xác định ông N là người nhận được quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/QĐST- DS ngày 27-8-2024, không xác định được người nhận quyết định hoãn phiên tòa là ai. Nay ông N cho rằng ông và nhân viên, bảo vệ công ty không nhận được quyết định hoãn phiên tòa nên không có căn cứ để xác định việc tống đạt quyết định hoãn phiên tòa cho nguyên đơn là hợp lệ. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do nguyên đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt phiên tòa lần thứ hai là chưa đủ căn cứ, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

[2.3] Trong vụ án này yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có liên quan, gắn liền với yêu cầu phản tố của bị đơn. Do vậy để giải quyết triệt để vụ án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty L (nay là Công ty L1), hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

[3] Về án phí sơ thẩm: Được xem xét khi cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Công ty L (nay là Công ty L1)

  1. Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 72/2024/DS- ST ngày 11-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  4. Công ty L (nay là công ty L1) không phải chịu, hoàn trả lại cho Công ty L1 300.000 (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003742 ngày 14-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  5. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 26-02-2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - TAND H.Long Điền (nay là H. Long Đất);
  • - Chi cục THADS H.Long Điền (nay là H. Long Đất);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/DS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý

  • Số bản án: 35/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger