|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2024/DS-ST
Ngày 25/9/2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Xuân Hưởng;
- Bà Vũ Thị Hòa
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 25/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 78/2024/TLST- DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST- DS ngày 21 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2024/ QÐST - DS ngày 16/9/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lý Thu H “Có mặt” và ông Bùi Văn N - Cùng địa chỉ: Thôn T, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai
- Bị đơn: Ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X (S) - Cùng địa chỉ: Thôn T, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai (Bà Đặng Thị X (S) ủy quyền cho ông Lê Văn T làm người đại diện tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền ngày 21/6/2024) “Có mặt”
- Người làm chứng: Ông Lý A S - Địa chỉ: Tổ C, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai “Vắng mặt”
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Bùi Xuân D - Địa chỉ: Số nhà A đường T, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai “Có mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn trình bày:
Vào năm 1979 vợ chồng bà Lý Thu H và ông Bùi Văn N có nhận chuyển nhượng diện tích đất của ông S1 (Nay ông S1 đã chết) ông S1 mua của ông Lý A S với diện tích khoảng 12.000m2. Địa chỉ thửa đất tại Thôn T, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Sau khi ông S1 mua đất được gần 01 tháng thì bán lại hết nhà và đất cho bà H, ông N với giá 1000 đồng, khi mua bán hai bên không làm giấy tờ, chỉ trả tiền và bàn giao đất theo rãnh đào phân ranh giới. Sau khi nhận chuyển nhượng ông H bà N chuyển về sinh sống quản lý sử dụng liên tục cho đến nay. Diện tích đất này ông bà Hợi N1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 002366 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 20/7/1999 mang tên hộ ông Bùi Văn N. Từ năm 2023 gia đình ông T có hành vi đến tranh chấp đất và cản trở không cho gia đình bà H, ông N khai thác thu hoạch cây đã trồng trên đất. Gia đình bà H, ông N đã làm đơn đề nghị Ủy ban nhân dân xã C giải quyết tranh chấp đất nhưng không thành. Diện tích đất gia đình ông T có hành vi tranh chấp đất với gia đình bà H, ông N khoảng 5.000m2 đất vườn nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 002366 do Ủy ban dân dân thành phố L cấp ngày 20/7/1999 mang tên hộ ông Bùi Văn N. Có tứ cận: Phía đông giáp đất gia đình bà H, ông N 113m, phía tây giáp đất ông T 78m, phía nam giáp đất ông T 18,2m và G đất gia đình ông Bùi Văn N 19m phía Bắc giáp đất ông T 30m. Trên đất tranh chấp gồm cây quế, cây mỡ, 02 bụi tre to, cây kháo, cây nhãn và những cây mỡ đã bị chặt vẫn còn gốc các cây này đã to đều trồng trên 35 năm nay. Chuồng gà xây nền chôn cọc bê tông, một góc nhà, một gốc bể nước. Đến nay gia đình bà H, ông N vẫn đang trực tiếp quản lý sử dụng mảnh đất này nhưng gia đình ông Lê Văn T và bà Đặng Thị S2 thường xuyên có hành vi tranh chấp đất với gia đình bà H, ông N và bảo rằng đây là đất của họ và cản trở không cho gia đình bà H, ông N sử dụng đất và thu hoạch cây cối hoa màu trên đất.
Tại đơn khởi kiện nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bao gồm: Buộc ông Lê Văn T và bà Đặng Thị S2 phải chấm dứt ngay hành vi tranh chấp và cản trở gia đình bà Lý Thu H và ông Bùi Văn N thực hiện quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên diện tích đất 5.000m2 đất vườn nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 002366 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 20/7/1999 mang tên hộ ông Bùi Văn N. Có tứ cận như sau: Phía đông giáp đất gia đình ông Bùi Văn N 113m, phía tây giáp đất ông T 78m, phía nam giáp đất ông T 18,2m và G đất gia đình ông Bùi Văn N 19m, phía Bắc giáp đất ông T 30m theo quy định của pháp luật. Sau khi xem xét thẩm định tại chỗ xác định được phần diện tích đất tranh chấp giữa bà Lý Thu H và ông Bùi Văn N và ông Lê Văn T, Đặng Thị X (Sa) có diện tích 516,2m² không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ai. Tuy nhiên phần diện tích đất này bà Lý Thu H và ông Bùi Văn N mua của S1 (ông S1 là người mua lại đất của Lý A S), tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ ông Lý A S có mặt và chỉ mốc giới phần đất tranh chấp và xác định phần đất tranh chấp nằm trong phần đất trước đây ông đã bán cho ông S1, ông S1 bán cho bà H, ông N) và diện tích đất trên bà Lý
Thu H và ông Bùi Văn N sử dụng ổn định từ năm 1979 đến năm 2023 mới phát sinh tranh chấp. Vì vậy bà Lý Thu H và ông Bùi Văn N đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết buộc ông Lê Văn T và bà Đặng Thị S2 phải chấm dứt hành vi tranh chấp đất để gia đình bà Lý Thu H và ông Bùi Văn N thực hiện quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên diện tích đất 516,2m²
Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án Bị đơn trình bày:
Gia đình ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X (S2) sử dụng mảnh đất của gia đình từ năm 1972, trước khi bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N về ở rất lâu. Đến năm 2000 gia đình được cấp đất thổ cư và đất vườn rừng. Quá trình sử dụng đất mấy chục năm nay không có tranh chấp gì. Đến năm 2023 gia đình bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N khai thác cây gỗ, khi gia đình bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N khai thác cây mỡ thuộc đất của gia đình bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N vợ chồng ông T, bà X (S2) không nói gì. Đến khi bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N khai thác 2 cây kháo gia đình ông T, bà X (S2) không cho khai thác hai cây kháo này vì hai cây kháo này gỗ rừng mọc trên phần đất của gia đình ông T, bà X (S2) được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 03900 do Ủy ban nhân dân thị xã C cấp ngày 04/12/2000 cho ông Lê Văn T và bà Đặng Thị S2 thửa số 32, tờ bản đồ P02.33. Việc bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N cho rằng vợ chồng ông T, bà X (S2) tranh chấp diện tích đất 5.000m2 đất vườn nằm trong GCNQSDĐ số vào số 002366 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 20/7/1999 mang tên hộ ông Bùi Văn N là không đúng.
Ông Lê Văn T đề nghị Tòa án vào xem xét thực tế diện tích đất đang tranh chấp vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ai thì người đó được sử dụng. Sau khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ xác định được phần diện tích đất tranh chấp giữa bà Lý Thu H và ông Bùi Văn N và ông Lê Văn T, Đặng Thị X (Sa) có diện tích 516,2m² không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông T, bà X (S), ông T, bà X (S) đề nghị Tòa án giải quyết chia đôi diện tích đất tranh chấp 516,2m², phần đất giáp phía đất gia đình nhà ông T, bà X (S) thì ông T, bà X (S) sử dụng, phần đất giáp phía gia đình bà Lý Thu H và ông Bùi Văn N gia đình bà Lý Thu H và ông Bùi Văn N sử dụng. Ông T, bà X (S) đã được Tòa án cho xem sơ đồ đất, ông T, bà X (S) xác định sơ đồ đúng với thực tế đất tranh chấp, phần ranh giới đất xác định trên thực địa do bà Lý Thu H chỉ giáp với phần đất trên thực tế nhà ông T, bà X (S) đang sử dụng, phần ranh giới đất xác định trên thực địa do ông Lê Văn T chỉ giáp với phần đất trên thực tế Lý Thu H và ông Bùi Văn N sử dụng
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn giữ nguyên ý kiến
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 236 của Luật đất đai 2024; Khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N đối với ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X (S2): Tạm giao cho bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N được sử dụng diện tích đất_516,2m² nằm trong thửa đất số 13, tờ bản đồ P02-33. Tuyên án phí, chi phí thẩm định tại chỗ, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng, thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn không có ý kiến yêu cầu xem xét vấn đề gì về thủ tục tố tụng.
Nguyên đơn bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N có đơn khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn ông ông Lê Văn T, Đặng Thị X (S). Diện tích thửa đất đang tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là 516,2m² tại địa chỉ Thôn T, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai theo quy định tại Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 điều 236 Luật đất đai năm 2024
[2] Xét yêu cầu khởi kiện:
[2.1] Nguồn gốc đất: Nguyên đơn cho rằng diện tích đất đang tranh chấp nằm trong phần đất gia đình bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N đang sử dụng có nguồn gốc gia đình mua của ông S1 (ông S1 mua của ông Lý A S được khoảng 1 tháng thì bán lại cho bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N) từ năm 1979, khi mua không có giấy tờ gì, chỉ bà giao mốc giới là rãnh đào, hiện tại ông Lý A S còn sống xác nhận cho gia đình bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N.
Bị đơn ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X (S2) cho rằng gia đình ông bà sử dụng mảnh đất của gia đình từ năm 1972, trước khi bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N về ở rất lâu. Đến năm 2000 gia đình được cấp đất thổ cư và đất vườn rừng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 03900 do Ủy ban nhân dân thị xã C cấp ngày 04/12/2000 cho ông Lê Văn T và bà Đặng Thị S2 thửa số 32, tờ bản đồ P02.33. Ông T đề nghị Tòa án vào xem xét thực tế diện tích đất đang tranh chấp vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ai thì người đó được sử dụng.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/7/2024 xác định được diện tích thửa đất đang tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là 516,2m² chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng cho ai. Tại biên bản này bà H ông N khẳng định phần diện tích đất đang tranh chấp gia đình mua từ năm 1979 và sử dụng ổn định từ đó đến năm 2023 mới phát sinh tranh chấp; Ý kiến của ông T cho rằng đất đang tranh chấp vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ai thì người đó sử dụng, nếu không vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T thì ông T cũng không có ý kiến gì; Ý kiến của ông Lý A S phần diện tích đất tranh chấp là do ông S đã bán cho ông S1 (BL số 48); Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/8/2024 ông Lý A S khai “Gia đình tôi trước đây ở thôn L, xã C. Đến năm 1979 do Trung Quốc đánh gia đình tôi chuyển về P, Bảo T1 sinh sống nên đã bán đất cho ông S1 (ông S1 lúc đó là Công an nghỉ hưu, hiện nay ông S1 đã chết) với giá 500 đồng, ông S1 bán lại đất cho gia đình bà H, ông N lúc nào thì tôi không biết. Năm 1980 gia đình tôi lại quay lại Cam Đường sinh sống. Về khu đất cũ trước đây tôi bán cho ông S1 thì tôi vẫn nhớ vì tôi vẫn thường xuyên vào thăm khu đất cũ của gia đình nên cũng biết gia đình bà H, ông N ở đó từ rất lâu rồi. Ngày 17/7/2024, bà Lý Thu H có nhờ tôi đến để chỉ mốc giới lại khu đất tôi đã bán cho ông S1. Vị trí đất bà H, ông N đang ở hiện tại là khu đất cũ tôi đã bán. Tôi và bà H đã cùng nhau chỉ mốc giới đất cũ cho Tòa án đến kiểm tra và đo đạc, tôi khẳng định việc tôi đã chỉ đúng mốc giới đất nhà tôi trước đây (Vì trước đây nhà tôi đào rãnh thông hào, tuy bị lấp bớt nhưng vẫn còn dấu vết của rãnh mà trước đây tôi đào). Tôi cũng đã được lên chỉ mốc giới và chứng kiến việc chỉ mốc giới của ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X (S2) thì ông T chỉ mốc giới không đúng, ông T tham chỉ lấn sang phần đất của bà H, ông N. Tôi khẳng định phần diện tích đất tranh chấp giữa bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N và bị đơn ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X (S) thuộc phần đất cũ của gia đình tôi” (BL số 60)
Như vậy căn cứ vào lời khai của các đương sự, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, lời khai của người làm chứng nêu trên thấy rằng diện tích đất đang tranh chấp nguồn gốc sử dụng đất là của bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N.
[2.2] Quá trình quản lý sử dụng:
Nguyên đơn bà H. ông N cho rằng sau khi mua đất gia đình quản lý sử dụng từ năm 1979 đến nay, trên đất tranh chấp gồm cây quế, cây mỡ, 02 bụi tre to, cây kháo, cây nhãn và những cây mỡ đã bị chặt vẫn còn gốc các cây; Bị đơn cho rằng quá trình sử dụng đất mấy chục năm nay không có tranh chấp gì. Đến năm 2023 gia đình bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N khai thác cây mỡ thuộc đất của gia đình bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N vợ chồng ông T không nói gì, đến khi bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N khai thác 2 cây kháo gia đình ông T không cho khai thác hai cây kháo này vì hai cây kháo này gỗ rừng mọc trên phần đất của gia đình ông T
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/7/2024 xác định được trên phần đất tranh chấp còn lại 07 cây kháo, 04 cây nhãn và 02 cây mỡ. Tại biên bản này bà H, ông N xác định cây kháo mọc tự nhiên, cây nhãn và cây mỡ do gia đình trồng từ năm 1982; Ông T bà X (S) cho rằng cây kháo mọc tự nhiên, cây nhãn và cây mỡ không do gia đình trồng; Ông Lý A S cho rằng khi ông bán đất trên đất không có cây cối gì.
Như vậy xác định được việc quản lý sử dụng phần diện tích đất tranh chấp là bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N quản lý sử dụng
[2.3] Việc kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất: Các hộ gia đình bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N và bị đơn ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X (Sa) đều không kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai
Xét yêu cầu khởi kiện: Lời khai của nguyên đơn về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất phù hợp với lời khai người làm người làm chứng ông Lý A S, phù hợp với ý kiến của các bên trong biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, biên bản Hòa giải tại Tòa án. Tại văn bản số 236/UBND-ĐC ngày 20/8/2024 của Ủy ban nhân dân xã C xác định toàn bộ diện tích đất tranh chấp giữa hai hộ gia đình nằm trong thửa đất số 13, tờ bản đồ số P02-33, không nằm trong vùng quy hoạch dự án đã được phê duyệt nhưng đang có tranh chấp nên chưa thực hiện được việc công nhận và cấp quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đánh giá trên, đối chiếu với quy định của pháp luật về đất đai. Hội đồng xét xử khẳng định về nguồn gốc đất, việc quản lý sử dụng đất đất đang tranh chấp là của bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N vì vậy chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N đối với ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X (S)
[4] Về án phí: Ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X (S) phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
[5.] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X (S2) phải chịu 4.926.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N không yêu cầu tính lãi xuất chậm thi hành án khoản tiền chi phí thẩm định tại chỗ
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 236 của Luật đất đai 2024; Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp đất của bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N đối với ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X (S3)
Xác nhận diện tích đất tranh chấp là 516,2m² có chiều giáp bờ ao là 12,76m, chiều hướng Tây bắc (do bà Lý Thu H xác định) là 69,55m, chiều đông bắc (do hai bên gia đình xác định) là 3,87m, chiều đông nam (ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X) xác định là 70,35m. Theo bản đồ địa chính được số hóa chuyển khối năm 2006 toàn bộ diện tích đất tranh chấp 516,2m² nằm trong thửa đất số 13, tờ bản đồ P02-33 (Có bảng kê tọa độ và trích lục thửa đất kèm theo) và tài sản trên đất gồm có 07 cây kháo, 04 cây nhãn và 02 cây mỡ thuộc quyền sử dụng của bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N.
Buộc ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X (S2) phải chấm dứt việc tranh chấp đối bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N toàn bộ diện tích đất và tài sản trên đất nêu trên.
Bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Về án phí: Ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X (S) phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X (S) phải chịu 4.926.000 đồng (Bốn triệu chín trăm hai sáu nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Xác nhận bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N đã nộp tạm ứng số tiền này, do vậy ông Lê Văn T và bà Đặng Thị X (S2) phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N số tiền chi phí xem xét, thẩm định là 4.926.000 đồng (Bốn triệu chín trăm hai sáu nghìn đồng)
Bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Lanh |
7
Bản án số 35/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 35/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ kiện 'Tranh chấp đất đai" giữa bà Lý Thu H, ông Bùi Văn N và ông Lê Văn T, bà Đặng Thị S
