|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA ——————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 35/2024/HN&GĐ-ST
Ngày 25-4 - 2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tiến
Ông Lê Văn Luận
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang – Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 173/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 2 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: /2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1975
- Bị đơn: Chị Dương Thị T1, sinh năm 1977
Cùng nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: H (nay là số nhà H đường L), phường H, thành phố T
Tại phiên tòa hôm nay, vắng mặt anh T và chị T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Vũ Văn T bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Dương Thị T1 hôn với nhau năm 1997, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại phường H, thành phố T do thời gian đã lâu nên anh chị đã làm mất giấy đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2021 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình hoà giải nhưng không có kết quả. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Dương Thị T1. Về con chung: Anh chị có 02 con chung: Vũ Thị N, sinh ngày 01/11/1997 và cháu Vũ Đ T2, sinh ngày 26/04/2008. Nay ly hôn cháu Vũ Thị N thành niên nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết, anh đề nghị Toà án giao cháu Vũ Đ T2 cho mẹ là Dương Thị T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Anh có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) mỗi tháng kể từ khi có quyết định của Toà án cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và công nợ: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai ngày 11/3/2024 chị Dương Thị T1 trình bày:
Về hôn nhân: Anh chị tự nguyện kết hôn với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND phường H vào năm 1997. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ H (nay là số nhà H đường L), thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2021 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung, khi sống chung mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, hai bên gia đình hoà giải nhưng không có kết quả. Anh chị đã sống ly thân được 2 năm nay. Nay anh T làm đơn khởi kiện ly hôn, chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đồng ý ly hôn và đề nghị Toà án giải quyết cho anh chị ly hôn. Về con chung: Anh chị có 02 con chung: Vũ Thị N ngày 01/11/1997 và cháu Vũ Đ T2 sinh ngày 26/04/2008. Nay ly hôn cháu Vũ Thị N thành niên nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết, chị đề nghị Toà án giao cháu Vũ Đ T2 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) mỗi tháng kể từ khi có quyết định của Toà án cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi. Về tài sản và công nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai ngày 11/02/2024 của cháu Vũ Đ T2 thể hiện như sau: Nếu bố mẹ không ở cùng chỗ thì nguyện vọng của cháu là được ở với mẹ
Toà án tiến hành thu thập chứng cứ. Tại biên bản thu thập chứng cứ do địa phương cung cấp thể hiện: Anh T và chị T1 là vợ chồng và có hộ khẩu thường trú tại H (nay là số nhà H đường L) phường H, thành phố T Anh chị có đăng ký kết hôn nhưng nay đã làm mất giấy đăng ký kết hôn. Quá trình anh T và chị T1 sinh sống tại địa phương có xảy ra mâu thuẫn, anh chị hay cãi vã xúc phạm nhau, có lúc còn xô xát với nhau, khu phố phải đến can ngăn. Hiện anh chị đã sống ly thân được một thời gian. Nay anh T có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án hòa giải cho anh chị đoàn tụ, nếu anh T vẫn cương quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật để giải quyết. Anh chị có hai con chung, hiện nay cháu T2 vẫn đang ở chung với anh T. Đã kết hôn và chung sống với chồng. Nếu anh chị ly hôn, việc giao con cho ai nuôi dưỡng và cấp dưỡng như thế nào đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết. Về tài sản chung và công nợ: Địa phương không nắm được anh chị có tài sản và công nợ gì.
UBND phường H xác định hiện nay không còn hồ sơ sổ sách lưu tại UBND phường về trường hợp ông Vũ Văn T bà Dương Thị T1 đăng ký kết hôn năm 1997.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành của nguyên đơn kể từ khi Toà án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định. Đối với nguyên đơn anh Vũ Văn T bị đơn chị Dương Thị T1 được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tuy nhiên anh chị đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt anh chị là đúng quy định.
- Về nội dung: Anh T được ly hôn với chị T1 nhưng anh không xuất trình được chứng cứ chứng minh việc anh chị có đăng ký kết hôn. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Toà án căn cứ vào khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình. Về hôn nhân: không công nhận anh Vũ Văn T chị Dương Thị T1 vợ chồng; Về con chung: Anh T chị T1 có 02 con chung là các cháu Vũ Thị N ngày 01/11/1997 và cháu Vũ Đ T2 sinh ngày 26/04/2008. Hiện cháu Vũ Thị N thành niên nên không giải quyết, giao cháu Vũ Đ T2 cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng, Anh T trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) mỗi tháng kể từ khi có quyết định của Toà án cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi. Về tài sản: không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa Nguyên đơn anh Vũ Văn T bị đơn chị Dương Thị T1 tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn cư trú tại thành phố T Do đó, Toà án thành phố T thụ lý và giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với anh Vũ Văn T chị Dương Thị T1 cả 2 đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự để giải quyết vắng mặt anh T chị T1 là phù hợp quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
- Về hôn nhân: Theo anh Vũ Văn T anh và chị Dương Thị T1 hôn với nhau vào năm 1997, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H T nhưng anh không xuất trình được giấy đăng ký kết hôn do đã làm mất.
Như vậy, không có chứng cứ nào để chứng minh cho việc anh chị có đăng ký kết hôn với nhau. Mặt khác, UBND phường H thành phố T đã xác nhận là qua kiểm tra không còn hồ sơ lưu tại UBND phường về việc đăng ký kết hôn của anh chị. Do vậy không có cơ sở khẳng định anh chị chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nay anh T đơn xin ly hôn chị T1 xét thấy việc anh chị chung sống với nhau mà không có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là vi phạm Điều 9 luật Hôn nhân gia đình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9; Khoản 1 Điều 14; Điều 15; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình; xử không công nhận anh Vũ Văn T chị Dương Thị T1 vợ chồng.
[3] Về con: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là các cháu: Vũ Thị N ngày 01/11/1997 và cháu Vũ Đ T2 sinh ngày 26/04/2008. Hiện nay cháu Vũ Thị N thành niên, anh chị không yêu cầu nên Toà án không giải quyết Anh chị đề nghị Toà án giao cháu Vũ Đ T2 cho mẹ là chị Dương Thị T1 tiếp nuôi dưỡng. Anh T trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) mỗi tháng kể từ khi có quyết định của Toà án cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi. Sự thỏa thuận của anh chị là phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu T2 nên cần chấp nhận.
[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Anh T và chị T1 đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định cề án phí, lệ phí của Toà án, anh T phải chịu án phí dân sự hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình; Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Không công nhận anh Vũ Văn T chị Dương Thị T1 vợ chồng.
Về con: anh chị có 02 con chung: cháu Vũ Thị N ngày 01/11/1997 và cháu Vũ Đ T2 sinh ngày 26/04/2008. Hiện cháu N thành niên nên không xem xét. Giao cháu Vũ Đ T2 cho chị Dương Thị T1 tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Vũ Văn T trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng (Hai triệu đồng mỗi tháng) kể từ khi có quyết định của Toà án cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi.
Anh T có quyền, nghĩa vụ qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
Về tài sản, công nợ: anh T và chị T1 không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: anh Vũ Văn T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0001252 ngày 29/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá. Anh T còn phải nộp tiếp số tiền 300.000đ.
Về quyền kháng cáo: anh Vũ Văn T chị Dương Thị T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: THẨM
TÒA
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Thị Khánh Tân |
Bản án số 35/2024/HN&GĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 35/2024/HN&GĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận là vợ chồng đối với anh T và chị T1
