Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25-7-2024

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Ngôn, ông Nguyễn Đức Hiền.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Ánh- Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Mai - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 102A/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXX-ST ngày 19/6/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 01/TB-TA ngày 09/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 20/QĐST-HNGĐ ngày 18/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1967. Địa chỉ: TDP P, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Thân Văn H, sinh năm 1963. Địa chỉ: TDP P, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/4/2024 và trong quá trình xét xử, chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên toà nhưng có lời khai trình bày:

Chị T và anh H đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 13/11/1985 tại UBND thị trấn N (nay là phường N), thị xã V, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau ngay, sống cùng gia đình nhà chồng. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc sau xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2004, không ai quan tâm đền A. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Thân Văn H.

Về con chung: Hai vợ chồng có 03 con chung.

  1. Cháu Thân Thị H1, sinh năm 1986
  2. Cháu Thân Mạnh T1, sinh năm 1991
  3. Cháu Thân Văn T2, sinh năm 1988

Hiện nay cháu H1, cháu T1, cháu T2 đã đủ 18 tuổi nên chị T không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết về con chung.

Về tài sản, công sức, ruộng đất, nợ chung: Chị T và anh H tự thỏa thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Thân Văn H vắng mặt tại phiên toà nhưng có lời khai trình bày:

Anh H và chị T đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 13/11/1985 tại UBND thị trấn N (nay là phường N), thị xã V, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Sau khi cưới vợ chồng chung sống cùng nhau ngay, sống cùng gia đình nhà chồng. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, sau đó đến tháng 02 năm 2024 xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, dẫn đến thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ khoảng tháng 02 năm 2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị T xin ly hôn, anh Hợp đồng ý.

Về con chung: Hai vợ chồng có 03 con chung.

  1. Cháu Thân Thị H1, sinh năm 1986
  2. Cháu Thân Mạnh T1, sinh năm 1991
  3. Cháu Thân Văn T2, sinh năm 1988

Hiện nay cháu H1, cháu T1, cháu T2 đã đủ 18 tuổi nên anh H không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản, công sức, ruộng đất, nợ chung: anh H và chị T tự thỏa thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành xác minh với ông Đỗ Văn T3, tổ trưởng tổ dân phố P, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang cho biết như sau: Chị T và anh H kết hôn với nhau năm 1985. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau ngay ở tại TDP P, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Việc chị T đề nghị ly hôn với anh H, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Hai vợ chồng có 03 con chung.

  1. Cháu Thân Thị H1, sinh năm 1986
  2. Cháu Thân Mạnh T1, sinh năm 1991
  3. Cháu Thân Văn T2, sinh năm 1988

Hiện tại anh H ở nhà không có công việc gì; Chị T có nghề buôn bán.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán từ khi thụ lý đến khi xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên Toà hôm nay, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại phiên toà. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điều 51, Điều 56, 58 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố Tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án xử:

  • Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Thân Văn H.
  • Về con chung, tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về án phí: bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cú khác do Toà án thu thập. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa hôm nay chị T vắng mặt nhưng có đơn xin xử vắng mặt; anh H vằng mặt lần thứ 2 không có lý do. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị T và anh H theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 13/11/1985 tại UBND thị trấn N (nay là phường N), thị xã V, tỉnh Bắc Giang, có cưới hỏi theo phong tục địa phương nên xác định hôn nhân hợp pháp.

Trong thời gian chung sống hai bên thường xảy ra mâu thuẫn vợ chồng (Do hai người không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống) dẫn tới việc hai người ly thân từ tháng 02/2004 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị T có đơn xin ly hôn, anh Hợp đồng ý ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị T được ly hôn với anh H.

[3] Về con chung: hai vợ chồng có 3 con chung là: Thân Thị H1, sinh năm 1986; Thân Mạnh T1, sinh năm 1991; Thân Văn T2, sinh năm 1988. Do cả 3 con chung đều đã trưởng thành, trên 18 tuổi và có cuộc sống riêng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T và anh H không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Thân Văn H.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003433 ngày 02/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên. Xác nhận chị T đã nộp xong án phí sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T và anh Thân Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TXViệt Yên;
  • - CCTHA-DS thị xã Việt Yên;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã (phường) nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Trường

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN về ly hôn

  • Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger