Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƯ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HS-ST

Ngày 24/10/2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Ký

Ông: Nguyễn Kim Sơn.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân tham gia phiên tòa: Ông Trương Xuân Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2023/TLST- HS ngày 29 tháng 09 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Hà Văn L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/05/1989 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn M, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn L1 và bà Lương Thị T. Họ và tên vợ: Đinh Thị P (Đã ly hôn); Bị cáo có hai con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/05/2023, chuyển tạm giam từ ngày 01/06/2023 cho đến nay tại nhà tạm giữ công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

*Người làm chứng:

  1. Anh: Nguyễn Đình L2 – Sinh năm: 1989.
  2. Địa chỉ: Khu Phố L, thị Trấn Y, huyện N, thanh H.

  3. Anh: Nguyễn Quốc H – Sinh năm: 1964.
  4. Địa chỉ: Khu Phố C, thị Trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa người làm chứng anh Nguyễn Đình L2 và anh Nguyễn Quốc H đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 15 phút, ngày 25/5/2023, Tổ công tác Đội CSĐT về Kinh tế - Ma túy của Cơ quan CSĐT Công an huyện N phối hợp với Công an Thị trấn Y tiến hành tuần tra, kiểm soát trên tuyến đường H thuộc khu vực dốc Trầu thuộc thôn M, Thị trấn Y, huyện N thì phát hiện đối tượng Nguyễn Đình L2 (sinh năm 1989, ở tại Khu phố L, Thị trấn Y, huyện N) sử dụng ma tuý cùng với Nguyễn Quốc H (sinh năm 1964, ở Khu phố C, thị trấn Y, huyện N); Khi L2 và H vừa sử dụng ma tuý xong thì bị Cơ quan Công an phát hiện lập biên bản, thu giữ tang vật L2, H vừa sử dụng ma tuý.

Quá trình làm việc với Cơ quan CSĐT Công an huyện N, Nguyễn Đình L2, Nguyễn Quốc H khai báo:

Vào khoảng 09 giờ, ngày 25/5/2023, L2 có sử dụng điện thoại số thuê bao 0867.343.xxx gọi vào số thuê bao 0356663853 của Hà Văn L (người ở thôn M, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) để hỏi mua ma tuý về sử dụng, khi gọi điện thoại L nghe máy, L2 hỏi là L có ma tuý không bán cho L2 1.000.000đ (Một triệu đồng); L đồng ý và hẹn L2 ở ngã ba dốc Trầu để đưa tiền trước cho L để L đi mua ma tuý. Sau khi gọi điện thoại cho L xong L2 nhờ Nguyễn Quốc H đi xe máy chở L2 đi gặp L; L2 cùng H đi xe máy đến ngã ba dốc T thì gặp L đang đi xe máy đến, khi gặp L, L2 lấy trong túi quần đang mặc trên người ra 1.000.000đ (Một triệu đồng) gồm 05 tờ tiền mệnh giá 200.000đồng đưa cho L, tuy nhiên L không đưa ma tuý (Heroine) ngay cho L2 mà bảo L2 đứng chờ để L đi lấy ma tuý; sau đó L cầm tiền và rời đi; đến khoảng 14 giờ ngày 25/5/2023 L gọi điện lại và hẹn L2 đến gần cầu B để giao ma tuý, nhưng L2 và H đi đến tại khu vực đường H, thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện N thì bị hỏng xe nên L2 gọi lại cho L và hẹn L đến nơi L2 bị hỏng xe để giao ma tuý, tại đây L lấy trong túi quần L đang mặc trên người ra 01 (một) gói ma tuý, được gói bằng mảnh giấy bạc của bao thuốc lá, L2 nhận ma tuý Heroine từ L, sau đó L2 và H đi về khu vực dốc T thuộc Q, thuộc khu phố M, Thị trấn Y, huyện N và cùng nhau sử dụng ma tuý; khi vừa sử dụng xong thì bị lực lượng của Công an huyện N phát hiện, lập biên bản và thu giữ toàn bộ đồ vật tài liệu liên quan. Ngoài ra, Nguyễn Đình L2 và Nguyễn Quốc H còn khai nhận ngoài lần mua bán ma tuý trên, vào ngày 22/5/2023, L2 có sử dụng điện thoại của L2 gắn thẻ sim số 0867343898 gọi điện thoại cho Hà Văn L hỏi mua ma túy với số tiền 500.000đ tiền ma tuý, L đồng ý bán nhưng yêu cầu L2 phải đưa tiền trước, L2 đồng ý và đến gặp L tại ngã ba thôn Đ, xã T, huyện N đưa cho

L 500.000đ, đến chiều cùng ngày L hẹn gặp L2 ở thôn Đ, xã T, huyện N đưa cho L2 01 gói ma tuý, loại heroine, L2 cầm gói ma tuý cùng Nguyễn Quốc H sử dụng hết. Đến ngày 25/5/2023 khi mua của L lần thứ 2 vừa sử dụng xong thì L2 bị cơ quan Công an phát hiện đưa về trụ sở làm việc.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp người và phương tiện đối với Hà Văn L (sinh năm 1989, ở tại thôn M, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) khi L đang ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả khám xét đã phát hiện tạm giữ 01 (một) gói nghi là ma túy được gói bằng giấy bạc, được xé từ vỏ bao thuốc lá, giấu ở trong gấu quần được gấp lên của ống quần bò bên phải L đang mặc trên người; 01 (một) gói nghi là ma tuý, được gói bằng giấy bạc bị đốt cháy được giấu trong bao thuốc lá trong túi quần bên phải L đang mặc trên người; 01 xe máy 36N7-5086 (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động OPPO Reno 4, màu đen (đã qua sử dụng);

Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 85 ngày 27/5/2023 đối với số tang vật nghi là ma túy thu giữ nêu trên của Hà Văn L. Bản Kết luận giám định số: 2013/KL-KTHS ngày 29/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • Các cục bột màu trắng ngà của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng là 0,325g, loại Heroine.
  • 01 cục bột màu trắng ngà của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng là 0,013g loại Heroine.
  • Tìm thấy chất ma túy loại Heroine, M ở chất nhựa màu đen do bị đốt cháy bám dính trên giấy bạc bị đốt cháy. Không xác định được khối lượng chất ma túy.

Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tiến hành áp giải Hà Văn L lên làm việc, L đã thừa nhận hành vi mua bán ma túy đối với Nguyễn Đình L2 như sau:

Trưa ngày 22/5/2023, Nguyễn Đình L2 gọi điện thoại cho Hà Văn L vào số điện thoại là 0356.663.xxx hỏi mua 500.000đ tiền ma tuý, loại heroine, L đồng ý bán và bảo Nguyễn Đình L2 đưa tiền trước, Nguyễn Đình L2 đồng ý và hẹn L đến đường H thuộc thôn Đ, xã T, huyện N để lấy tiền, L đi xe máy biển kiểm soát 36N7-5086 đến gặp L2 và L2 đưa cho L một tờ tiền mệnh giá 500.000đ, L cầm tiền và gọi điện cho Vi Văn T1 ở huyện Q, tỉnh Nghệ An hỏi mua 500.000đ tiền ma tuý, loại heroine, Vi Văn T1 đồng ý và hẹn L đến ngã ba C, huyện Q, tỉnh Nghệ An để mua bán ma tuý, L điều khiển chiếc xe máy trên đến ngã ba C, gặp và đưa cho T1 số tiền 500.000đ, T1 cầm tiền và đưa cho L một gói ma tuý, loại heroine, có được ma tuý Hà Văn L chia ra một gói nhỏ và tìm nơi sử dụng hết. Sau khi sử dụng xong L cầm gói ma tuý còn lại mang về bán cho Nguyễn Đình L2 với số tiền 500.000đ. Đến trưa ngày 25/5/2023, Nguyễn Đình L2, tiếp tục gọi điện thoại vào số điện thoại của Hà Văn L là

0356663853 hỏi mua 1.000.000đồng tiền ma tuý, loại heroine, L đồng ý bán và bảo Nguyễn Đình L2 đưa tiền trước, L2 đồng ý và bảo Hà Văn L đến ngã ba dốc T, Thị trấn Y, huyện N để lấy tiền, L điều khiển xe máy biển kiểm soát 36N7-5086 đi đến ngã ba dốc Trầu gặp Nguyễn Đình L2 và Nguyễn Quốc H tại đây L2 đưa cho L số tiền 1.000.000đồng, bao gồm 5 tờ mỗi tờ mệnh giá 200.000đồng. Sau khi có tiền L tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36N7-5086 đi đến huyện Q, tỉnh Nghệ An gặp Vi Văn T1 mua 1.000.000đồng tiền ma tuý, loại heroine, Vi Văn T1 cầm tiền và đưa cho luận một gói ma tuý, L cầm gói ma tuý lấy ra một gói nhỏ và tìm nơi sử dụng hết số ma tuý đó, số ma tuý còn lại L cất dấu mang về bán cho Nguyễn Đình L2 với số tiền 1.000.000đồng, tại đường H thuộc thôn Đ, xã T, huyện N, sau đó L đi về nhà. Đến tối cùng ngày 25/5/2023 L tiếp tục sử dụng số điện thoại là số 0356.663.xxx gọi điện thoại cho Vi Văn T1, hỏi mua 2.000.000đồng tiền ma tuý, Vi Văn T1 đồng ý bán và hẹn L đến ngã ba C, huyện Q, tỉnh Nghệ An để lấy ma tuý; trước khi đi L đã chuyển khoản cho Vi Văn T1 số tiền 10.000.000đồng từ tài khoản ví mô mô của L vào tài khoản ví mô mô của Vi Văn T1; trong số tiền trên có 2.000.000đ là tiền mua ma tuý, số tiền 8.000.000₫ là tiền Luận trả nợ vay Vi Văn T1 trước đó; sau khi chuyển tiền L điều khiển xe máy biển kiểm soát 36N7-5086 đi đến gặp Vi Văn T1 tại ngã ba C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; sau đó được Vi Văn T1 rủ L vào nhà người thân của T1 chơi, đến sáng ngày 26/5/2023 T1 đưa cho L một gói ma tuý, loại heroine, L cầm gói ma tuý đó chia thành một gói nhỏ để sử dụng, nhưng do đông người qua lại nên L không sử dụng hết gói ma tuý, L gói ma tuý còn sót lại bỏ vào bao thuốc lá để trong túi quần L đang mặc. Số ma tuý còn lại L cầm về nhà bà ngoại ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa mục đích mang ma tuý về chia nhỏ tiện sử dụng và tiện cho việc bán kiếm lời. Tuy nhiên chưa kịp bán cho ai thì L bị cơ quan điều tra Công an huyện N bắt giữ, thu toàn bộ số ma tuý trên.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng:

  • 01 (một) phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, bấm ghim các góc, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T2, Lê Duy T3 và các hình dấu tròn, đỏ của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong phong bì là ma túy, vật chứng của vụ án sau giám định, mặt trước phong bì ghi “CA Như Xuân TC85 ngày 26/5/2023”.
  • 01 (một) điện thoại di động màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng có gắn sim số 0966445835 và số 0356663853;

Đây là vật chứng của vụ án, đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định.

  • 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 36N7-5086, đã qua sử dụng, màu xe nâu, nhãn hiệu JIULONG; ngày 20/7/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại chiếc xe mô tô 36N7-5086 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Hà Văn L1 (sinh năm 1969, ở thôn M, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa).

Bản cáo trạng số: 30/CT-VKSNX ngày 29/09/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố Hà Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Hà Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Hà Văn L với mức án từ 07 (Bảy) năm đến 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/05/2023.

Về vật chứng và các biện pháp tư pháp:

* Đề nghị Tịch thu, tiêu hủy:

  • 01 (một) phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, bấm ghim các góc, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T2, Lê Duy T3 và các hình dấu tròn, đỏ của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong phong bì là ma túy, vật chứng của vụ án sau giám định, mặt trước phong bì ghi “CA Như Xuân TC85 ngày 26/5/2023”.
  • 01 thẻ sim số 0966445835 và số 0356663853;

* Đề nghị bán đấu giá sung công:

  • 01 (một) điện thoại di động OPPo màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng.

* Đề nghị truy thu số tiền 1.500.000 đồng là tiền thu lời bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo.

Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thống nhất và không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Hà Văn L xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Hà Văn L là đối tượng nghiện ma túy, xuất phát từ động cơ vụ lợi thu lời bất chính và nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên L đã mua ma túy về với mục đích sử dụng và chia nhỏ ma túy bán cho người nghiện để kiếm lời. Chiều tối ngày 25/5/2023, L điều khiển xe mô tô 36N7-5086 đi đến gặp người đàn ông tên Vi Văn T1 tại ngã ba C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; đến sáng ngày 26/5/2023 T1 đưa cho L một gói ma tuý, loại heroine, L cầm gói ma tuý và sử dụng, nhưng do đông người qua lại nên L không sử dụng hết gói ma tuý, L gói ma tuý còn sót lại bỏ vào bao thuốc lá để trong túi quần L đang mặc; số ma tuý còn lại L cầm về nhà bà ngoại ở thôn T, xã T, huyện T mục đích mang ma tuý về chia nhỏ tiện sử dụng và tiện cho việc bán kiếm lời. Tuy nhiên chưa kịp bán cho ai thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện N bắt giữ, thu toàn bộ số ma tuý trên.

Quá trình điều tra xác định Hà Văn L bán ma túy cho Nguyễn Đình L2 02 lần, cụ thể như sau:

  • Lần thứ 1: Vào trưa ngày 22/5/2023, L bán ma tuý cho L2 ở khu vực đường H, thuộc địa phận huyện T, với số tiền 500.000đ; khi bán ma tuý cho L2 xong thì cả L, L2 và H vào khu vực nhà hoang ven đường để cùng nhau sử dụng ma tuý.
  • Lần thứ 2: Là vào khoảng 14 giờ, ngày 25/5/2023, L bán ma tuý cho L2 tại khu vực đường H thuộc thôn Đ, xã T, huyện N, với số tiền 1.000.000đ; sau đó L2, H đã sử dụng hết.

Tại Kết luận giám định số: 2013/KL-KTHS ngày 29/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Các cục bột màu trắng ngà của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng là 0,338g, loại Heroine. Lời khai nhận tội của bị cáo L tại phiên tòa phù hợp với nội dung của bản Cáo trạng, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Bị cáo Hà Văn L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý độc quyền các chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng và bán thu lời bất chính. Bị cáo L đã bán cho Trần Đình L3 02 lần để thu lời bất chính số tiền 1.500.000 đồng, tổng khối lượng ma túy đã thu giữ được của bị cáo là 0,338g (Không phẩy ba ba tám gam) loại: Heroine. Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Quan điểm truy tố của viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi và hậu quả: Đây là vụ án hình sự “Mua bán trái phép chất ma túy” có tính chất nghiêm trọng do đối tượng nghiện ma túy Hà Văn L thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội. Tệ nạn nghiện hút ma túy là một trong những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tệ nạn và tội phạm nguy hiểm khác, làm suy kiệt kinh tế và tác động ảnh hưởng thế hệ thanh thiếu niên, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của tệ nạn ma túy và việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân và thu lời bất chính bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải có đường lối xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời cách ly khỏi đời sống xã hội đối với bị cáo một thời gian là cần thiết.

[5] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo: Hà Văn L có nhân thân tốt; Tiền án, tiền sự: Không

Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Do bị cáo Hà Văn L có tình tiết giảm nhẹ Trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, nên khi quyết định hình phạt cần xem xét lên cho bị cáo một mức hình phạt nhất định để đủ sức răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, nhưng đồng thời cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân tốt.

- Về hình phạt bổ sung: Hành vi của bị cáo là nhằm mục đích thu lời bất chính nhưng bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập, hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[7] Về vật chứng và các biện pháp tư pháp:

  • 01 (một) phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, bấm ghim các góc, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T2, Lê Duy T3 và các hình dấu tròn, đỏ của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong phong bì là ma túy, vật chứng của vụ án ma túy còn lại sau giám định, mặt trước phong bì ghi “CA Như Xuân TC85 ngày 26/5/2023”. Là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 thẻ sim số 0966445835 và số 0356663853 Là công cụ phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 (một) điện thoại di động OPPO Renor 4 màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng. Là công cụ phương tiện bị cáo dùng cho việc phạm tội, có giá trị sử dụng nên cần tịch thu bán đấu giá xung công.
  • Đối với số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền mà bị cáo thu lời bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà có cần truy thu để sung vào ngân sách nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông Vi Văn T1 (sinh năm 1994, ở Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An) theo lời khai của Hà Văn L người này đã bán ma tuý cho L. Tuy nhiên, qua xác minh Vi Văn T1 không có mặt ở địa phương, cơ quan đã xác minh nhiều lần nhưng đối tượng không có mặt địa phương đi đâu, làm gì không ai biết, vì vậy chưa thể làm việc được với Vi Văn T1 để đấu tranh với đối tượng về hành vi bán ma tuý cho Hà Văn L. Đồng thời đối với việc mua bán giữa Vi Văn T1 và Hà Văn L diễn ra không có ai là người chứng kiến hay nhìn thấy, chỉ có căn cứ duy nhất lời khai của bị cáo Hà Văn L nên cơ quan điều tra xét thấy chưa đủ căn cứ để xử lý đối tượng trên. Hiện nay Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra quyết định truy tìm đối với Vi Văn T1, khi làm việc được với T1 và có đủ tài liệu căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của đối tượng sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Đình L2 và Nguyễn Quốc H: Quá trình làm việc Nguyễn Đình L2 khai nhận do bản thân là người nghiện ma tuý nên ngày 22/5/2023 và ngày 25/5/2023 L2 có đi mua ma tuý của Hà Văn L tổng cộng 02 lần, mục đích mua về sử dụng. Sau khi mua về đã cùng với H sử dụng hết số ma tuý trên. Ngày 25/5/2023 khi L2 và H vừa sử dụng hết số ma tuý mua được thì bị Cơ quan Công an phát hiện, kiểm tra

lập biên bản. Quá trình kiểm tra tại hiện trường, người L2 và H thì không thu giữ được ma tuý, Cơ quan Công an đã phối hợp với Công an thị trấn Y tiến hành xét nghiệm nước tiểu phát hiện L2 và H dương tính với ma tuý Heroine. Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực An ninh, trật tự, an toàn xã hội. Căn cứ tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra ngày 20/9/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã đề nghị Trưởng Công an huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đình L2 và Nguyễn Quốc H về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với Chiếc xe mô tô 36N7 - 5086 do Hà Văn L điều khiển để mua ma tuý. Quá trình xác minh chiếc xe mô tô trên không phải của Hà Văn L mà là của ông Hà Văn L1 (sinh năm 1969, ở thôn M, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; là bố đẻ của Hà Văn L). Khi sử dụng xe L chỉ nói đi để giải quyết công việc cá nhân không nói để đi mua ma tuý, ông L1 cũng không biết L sử dụng xe để đi mua ma tuý. Quá trình thu thập tài liệu xác định chiếc xe trên không phải là tang vật hay vật chứng của vụ án nào. Vì vậy, ngày 20/7/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra Quyết định trả lại chiếc xe trên cho ông Hà Văn L1 là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên là phù hợp. Nên HĐXX không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo Hà Văn L là người bị kết án nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b Khoản 2 Điều 251; Điều 50, Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Hà Văn L 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 26/05/2023.

Về vật chứng và các biện pháp tư pháp:

+ Về vật chứng:

* Tịch thu, tiêu hủy:

  • 01 (một) phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, bấm ghim các góc, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T2, Lê Duy T3 và các hình dấu tròn, đỏ của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong phong bì là ma túy, vật chứng của vụ án còn lại sau giám định, mặt trước phong bì ghi “CA Như Xuân TC85 ngày 26/5/2023".
  • 01 thẻ sim số 0966445835 và 01 thẻ sim số 0356663853.

* Tịch thu bán đấu giá sung công:

  • 01 (một) điện thoại di động OPPO Renor 4 màu đen, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng.

Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng số 03 ngày 18/10/2023 giữa Công an huyện N với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân.

+ Về biện pháp tư pháp: Truy thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng của bị cáo Hà Văn L.

Án phí: Bị cáo Hà Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (24/10/2023).

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • VKSND H.Như Xuân;
  • VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • CQĐT H.Như Xuân;
  • Nhà tạm giữ, CA H.Như Xuân;
  • Chi cục THADS H.Như Xuân;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2023/HS-ST ngày 24/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 35/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn L, phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger