Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24 - 07 - 2024
V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Trung Thành
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Bích Thuỷ
  • Bà Nguyễn Thị Thi
  • - Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Bích Loan, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2024/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 07 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QÐST – HNGĐ, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu H, sinh năm 1992; có mặt
  • Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, TP ..
  • - Bị đơn: Anh Cấn Duy L, sinh năm 1990; vắng mặt.
  • Địa chỉ: Thôn T, xã X, thị xã S, TP ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và các bản tự khai tiếp theo tại Toà án, chị Nguyễn Thu H trình bày: Chị đăng ký kết hôn cùng anh Cấn Duy L vào ngày 14/3/2015 trên cơ sở được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã X, thị xã S. Sau khi cưới, chị về sống chung cùng anh L và gia đình tại thôn T, xã X, thị xã S, được khoảng một tuần thì vợ chồng chị xuống Hà Nội thuê nhà trọ ở để tiện cho công việc làm ăn nên chỉ những ngày lễ tết hay gia đình có công việc thì vợ chồng chị mới về gia đình anh L. Quá trình sống chung chị và anh L đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do kinh tế khó khăn nên vợ chồng thường xẩy ra cãi nói nhau, sau đó chị phát hiện anh L có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác thông qua tin nhắn điện thoại, từ đó anh L không quan tâm đến chị nên vợ chồng sống chung không có hạnh phúc. Vì vậy, năm 2021 chị về nhà bố mẹ đẻ ở và không sống chung cùng anh L nữa. Từ đó đến nay chị và anh L sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Đối với gia đình anh L, chị cũng chấm dứt mọi quan hệ, không đi lại hay thăm hỏi gì nữa. Đến nay, chị xác định không thể tiếp tục sống chung cùng anh L được vì tình cảm vợ chồng không còn nên chị tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L để chị ổn định cuộc sống.

Hiện nay anh L đang làm thuê ở quận B, thành phố Hà Nội, thỉnh thoảng vẫn về nhà, địa chỉ cụ thể anh L làm ở đâu thì chị không biết. Việc anh L không đến Tòa án để giải quyết là gây khó khăn cho chị nên đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nhiều lần, mà giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và giải quyết cho chị được ly hôn anh L.

Về con chung: Chị và anh L có 01 con chung là Cấn Duy A, sinh ngày 13/6/2015, cháu đang sống chung cùng chị. Sau khi ly hôn chị đề nghị được nuôi con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng con chung.

Về tài sản chung và nợ: Không có

- Tại Biên bản xác minh ngày 26/6/2024, ông Cấn Văn L1 là bố đẻ anh L cho biết: Tháng 3 năm 2013 gia đình ông tổ chức cưới vợ cho con trai là Cấn Duy L kết hôn cùng chị Nguyễn Thu H. Sau khi cưới chị H về sống chung cùng anh L và gia đình ông được khoảng một tuần thì hai vợ chồng xuống Hà Nội thuê nhà ở để tiện cho công việc làm ăn, chỉ khi nào gia đình ông có công việc hay ngày lễ tết thì vợ chồng anh L mới về. Vợ chồng anh L mâu thuẫn như thế nào ông và gia đình không ai biết, chỉ nghe anh L nói chị H muốn vợ chồng về nhà mẹ đẻ chị H ở nhưng anh L không về mà vẫn ở nhà trọ nên vợ chồng cãi nhau và chị H không ở cùng anh L. Khoảng hơn một năm nay chị H không về nhà ông nữa và cũng không liên lạc với ai trong gia đình. Đến nay, chị H xin ly hôn anh L, việc ly hôn là do vợ chồng anh L quyết định, ông không có ý kiến gì. Hiện nay anh L đi làm không có nhà, nhưng vẫn gọi điện về nhà và thỉnh thoảng có về nhà xong lại đi luôn. Các tài liệu Tòa án giao cho anh L mà ông nhận thay thì ông đều giao lại cho anh L.

Xác minh tại UBND xã X được biết: Anh Cấn Duy L đăng ký hộ khẩu thường trú và ở cùng bố mẹ đẻ tại thôn T, xã X, thị xã S. Anh L đăng ký kết hôn cùng chị Nguyễn Thu H tại UBND xã X vào ngày 14/03/2015. Theo gia đình anh L thì vợ chồng chị H, anh L sống chung đã xẩy ra mâu thuẫn nên chị H xin ly hôn anh L, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên quan điểm đề nghị được ly hôn anh Cấn Duy L vì xác định tình cảm vợ chồng không còn. Về con chung, cháu Duy A đang ở cùng chị và có nguyện vọng được sống chung cùng chị nên chị đề nghị được nuôi cháu và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ: Không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thu H. Chị H được ly hôn anh Cấn Duy L. Về con chung giao cháu Cấn Duy A cho chị H nuôi, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh L. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm non con chung, không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ: Không có.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thu H có đơn xin ly hôn anh Cấn Duy L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn T, xã X, thị xã S và quan hệ tranh chấp về ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện đầy đủ trình tự tố tụng và đã giao các Văn bản tố tụng, giấy triệu tập hợp lệ cho anh Cấn Duy L thông qua ông Cấn Văn L1 là bố đẻ anh L, nhưng tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh L đều vắng mặt nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Vì vậy, căn cứ Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên toà, anh L vắng mặt lần thứ hai không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Cấn Duy L.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thu H và anh Cấn Duy L trên cơ sở kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 14/03/2015 tại UBND xã X, thị xã S nên xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Chị H và anh L sống chung đã xẩy ra mâu thuẫn cãi nói nhau, nguyên nhân do kinh tế khó khăn và do không thống nhất được chỗ ăn ở, từ đó vợ chồng không tin tưởng nhau và sống ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay không ai quan tâm đến cuộc sống của ai nữa nên chị H đề nghị được ly hôn anh L. Mặc dù, Toà án không lấy được lời khai của anh L, nhưng thông qua ông L1 là bố đẻ anh L cho biết anh L và chị H sống chung đã xẩy ra mâu thuẫn và sống ly thân nhau. Điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh L đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thu H.

- Về con chung: Chị H và anh L có 01 con chung là Cấn Duy A, sinh ngày 13/6/2015. Xét thấy, cháu Duy A đang sống cùng chị H, anh L thường xuyên đi làm không có thời gian chăm sóc cháu nên giao cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế cũng như nguyện vọng của cháu Duy A.

- Về tài sản chung và nợ: Chị H xác định không có.

Trường hợp nếu anh L có yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ thì được giải quyết bằng một vụ án khác.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án .

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thu H.
    1. Chị Nguyễn Thu H được ly hôn anh Cấn Duy L.
    2. Về con chung: Giao cháu Cấn Duy A, sinh ngày 13/6/2015 chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định thay đổi khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tạm hoãn nghĩa vụ nuôi con chung cho anh Cấn Duy L đến khi có yêu cầu mới hoặc có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
    3. Về tài sản chung và nợ: Không có.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thu H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000851 ngày 28/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự: Chị Nguyễn Thu H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Cấn Duy L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thị xã Sơn Tây;
  • - THADS thị xã Sơn Tây;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà

Đặng Trung Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger