Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Cường

Bà Lê Thu Hương

-Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Khánh Trâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá.

-Đại diện VKSND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Bùi Thanh H Kiểm sát viên.

Ngày 24/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Văn Đ - sinh năm: 1972; tại xã L là thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKNKTT: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Ngô Văn P, đã chết, con bà: Nguyễn Thị Đ1; có vợ là chị Trương Thị T, sinh năm: 1979 và có hai người con, lớn sinh năm: 1995, nhỏ sinh năm: 2006; tiền sự: Không; tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/4/2024, đến ngày 21/5/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị hại: Chị Trương Thị T, sinh năm: 1979 (có mặt)

Trú tại: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người làm chứng:

Anh Trương Quang T1- sinh năm: 1979, (vắng mặt)

Trú tại: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thah Hóa;

Trịnh Thị T2, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thah Hóa,

Ngô Văn T3, sinh năm 2006 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn L, xã L, huyện H, tỉnh Thah Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14/02/2024, Ngô Văn Đ cùng vợ là chị Trương Thị T (sinh năm: 1979) đi chúc tết về nhà mình tại thôn L, xã L, huyện H, thì chị T đi xuống bếp nấu cháo để ăn tối, còn Đ ngồi trên phòng khách xem Ti vi. Sau khi nấu cháo xong, chị T múc bát tô cháo (loại bát bằng sứ) mang lên trên phòng khách để trên bàn uống nước cho Đồng ăn và đi xuống bếp ngồi ăn cháo một mình. Lúc này, Đ từ ngoài sân đi vào trong nhà nhìn thấy bát cháo đang để trên bàn ở phòng khách, còn chị T đang ngồi ăn cháo một mình ở dưới bếp nên Đ nói “ăn thì bê lên đây mà ăn cùng, sao lại ngồi đó, vợ chồng mà ở như ri à”, chị T trả lời lại “mặc xác tôi, anh ăn ở đó đi, còn tôi ăn ở đây”. Nghe chị T nói vậy, Đ bực tức nên dùng tay trái tát 01 (một) cái vào mặt chị T, bị đánh chị T nói “tôi làm cái chi mà anh đánh tôi”, thì Đồng chửi “bữa nay tau đánh mi chết”, đồng thời tay phải Đ cầm bát tô bằng sứ đựng cháo đang để ở trên bàn giơ lên đập 01 (một) cái trúng vào vùng đầu và mặt chị T làm chiếc bát tô bằng sứ bị vỡ thành các mảnh nhỏ rơi xuống nền nhà, còn chị T bị thương tích chảy máu ở vùng đầu và mặt. Thấy chị T bị thương tích chảy máu, Đ gọi điện thoại cho anh Trương Quang T1 (sinh năm: 1979, là thôn T, xã L, huyện H) để kể lại sự việc Đ vừa dùng bát tô sứ đánh làm chị T bị thương tích chảy máu và nhờ anh T1 sang chở chị T đi cấp cứu, còn chị T ngồi tại phòng bếp lấy điện thoại gọi video có hình ảnh qua ứng dụng Zalo cho con trai là anh Ngô Văn T3 (sinh năm: 2006) đang đi chơi Tết để kể lại sự việc. Sau đó, anh T1 và anh T3 về đưa chị T đến Bệnh viện Đa khoa huyện H cấp cứu, điều trị.

Tại biên bản xem xét dấu vết hồi 08 giờ 30 ngày 19/02/2024, tại Bệnh viện đa khoa huyện H ghi nhận các thương tích trên cơ thể chị Trịnh Thị T2 do Ngô Văn Đ gây ra như sau:

01 vết thương tại vùng đầu bên trái kích thước 01 x 01 cm; 01 vết thương tại vùng đầu bên trái kích thước 0,8 x 0,8 cm; 01 vết thương tại vùng trán bên trái (đã khâu), kích thước 3 x 0,5 cm; 01 vết thương tại vùng trán phía trên lông mày trái, kích thước 5 x 0,5 cm (vết thương đã khâu); 01 vết thương tại vùng thái dương bên trái, kích thước 3 x 0,5 cm, đã khâu; 01 vết xước da tại vùng má trái, kích thước 2,5 x 0,3 cm; 01 vết xước da tại vùng gò má trái, kích thước 01 x 0,3 cm; 01 vết xây xước da kích thước 0,9 x 0,3 cm, tại vùng mũi; 01 vết xước da tại vùng cổ bên trái, kích thước 0,5 x 0,5 cm.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 246/KLTTCT-PYTH ngày 12/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Trương Thị T tại thời điểm giám định là 12 % (mười hai phần trăm)

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, bị can đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã thu thập được.

Về vật chứng của vụ án: Đối với một số mảnh vỡ của chiếc bát sứ trong đó mảnh to nhất có kích thước (10 x 6) cm màu trắng sứ, ngoài ra còn có rất nhiều mảnh vỡ nhỏ li ti khác, trên bề mặt của các mảnh vỡ bám dính chất màu nâu đỏ (dạng máu) là vật chứng của vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện H bảo quản, thi hành theo bản án.

Tại bản Cáo trạng số: 30/CT – VKS HL ngày 11 tháng 6 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, truy tố bị cáo Ngô Văn Đồng, về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2, Điều 134 của Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố, bị cáo Ngô Văn Đ, phạm tội “ Cố ý gây thương tích”

Về căn cứ áp dụng hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị tuyên phạt: Bị cáo Ngô Văn Đ, mức án từ 24 đến 27 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS, Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật chứng có khối lượng, số lượng đặc điểm theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 11/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bị hại: Đề nghị Hội đống xét xử miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo để bị cáo được cải tạo tại địa phương cùng vợ con chăm lo gia đình.

Bị cáo Ngô Văn Đ thống nhất quan điểm buộc tội của Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến đối đáp tranh luận. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và ăn năn hối cải mong được sửa chữa lỗi lầm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xin cải tạo tại địa phương để chăm sóc vợ con và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên. Vụ án thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng, người được phân công tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng.

[2].Về căn cứ xác định hành vi phạm tội: Bị cáo khai nhận, do mâu thuẫn phát sinh bột phát trong việc sinh hoạt, vợ chồng lời qua tiếng lại, trong lúc nóng giận không kiềm chế được, bị cáo đã cầm bát tô bằng sứ đang để sẵn ở trên bàn giơ lên đập 01 (một) cái trúng vào vùng đầu và mặt chị T (vợ) làm chiếc bát tô bằng sứ đựng cháo bị vỡ thành nhiều mãnh, gây nên nhiều vết thương phải đi điều trị, sau khi gây thương tích bị cáo đã chạy gọi người đến cứu giúp đưa chị T đi cấp cứu. Kết quả giám định Pháp y chị T bị tổn hại 12% sức khỏe. Lời khai của bị cáo không có mâu thuẫn với lời khai trước đó tại cơ quan điều tra, phù hợp quá trình diễn biến nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp lời khai của bị hại, biên bản khám thương ban đầu, kết quả điều trị thương tích, biên bản hiện trường và bản Kết luận giám định của Trung tâm giám định pháp Y tỉnh T kết luận; Phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập theo trình tự tố tụng. Do đó, đủ căn cứ để khẳng định, chị Nguyễn Thị T4 bị tổn thương cơ thể 12% là do bị cáo dùng hung khí nguy hiểm tác động trực tiếp vào vùng đầu, mặt gây nên. Hành vi của bị cáo Ngô Văn Đ đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3]. Xét tính chất vụ án: Do sinh hoạt và cách ứng xử giữa vợ chồng với nhau trong dịp nghỉ lễ, tết cổ truyền, nên dẫn đến nguyên nhân làm phát sinh tội phạm bạo lực gia đình mà hậu quả thương tích của bị hại là do bị cá trực tiếp gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng TNHS đối với bị cáo thấy: Bị cáo Ngô Văn Đ không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4.1]. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải, người bị hại có đơn đề nghị xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Trong vụ án này hậu quả bị thương tích là có phần lỗi của người bị hại. Nên cần áp dụng các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra không còn căn cứ xem xét tình tiết giảm nhẹ nào khác.

[5]. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cơ trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo theo khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của BLHS cũng đảm bảo trong công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.

[6]. Về bồi thường thiệt hại nhận thấy: Người bị hại bị tổn hại sức khỏe nhưng không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

[7]. Về xử lý vật chứng: Do vật chứng được thu giữ là các mãnh vỡ bát sứ không có giá trị sử dụng. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS, tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật chứng có khối lượng, số lượng và đặc điểm theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 11/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm đ, khoản 2, Điều 134; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; khoản 1 Điều 50 và khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn Đồng phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu nên khong xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật chứng có khối lượng, số lượng và đặc điểm theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 11/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

Về nghĩa vụ chịu án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/ 2016 /UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ngô Văn Đ phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 61, 62 và Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận;

  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Cơ quan THHS;
  • - Cơ quan điều tra cùng cấp;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự;;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Nghi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger