|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 35/2024/HNGÐ - ST Ngày 24/7/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Lê Viết Hà .
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Đức Tùng.
2. Ông Nguyễn Sỹ Nghị.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thanh- cán bộ Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 28/2024/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QÐST – DS, ngày 11 tháng 6 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2024/QÐST – TA, ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991 (có đơn xin xét xử mặt)
Địa chỉ: xóm K - xã N - huyện N - tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: xóm K - xã N - huyện N - tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn, tại bản khai và tại đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ tình cảm: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn C có đăng ký kết hôn vào ngày 04 tháng 11 năm 2008, tại ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống vợ, chồng sống hạnh phúc đến năm 2018. Sau đó vợ, chồng phát sinh mâu thuẫn do tình tính không hợp nhau nên đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay chị H thấy không còn tình cảm với anh Nguyễn Văn C và yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
Về quan hệ nuôi con chung: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn C có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 24 tháng 8 năm 2009 và cháu Nguyễn Đình C1, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2011. Nay ly hôn chị có nguyện vọng nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi con
Về quan hệ tài sản: chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng không chấp hành có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai được. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật.
Có mặt tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa và của Hội đồng xét xử đã làm đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật, đúng thời gian và trình tự thu thập chứng cứ của đương sự. Đối với nguyên đơn đã chấp hành theo quy định của pháp luật, bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa 02 lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H là cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Về con chung giao cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 24 tháng 8 năm 2009 và cháu Nguyễn Đình C1, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2011 cho chị Nguyễn Thị H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc các cháu thành niên, tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn C do chị H không có yêu cầu. Về tài sản chị Nguyễn Thị H không có yêu cầu nên không xem xét. Về án phí buộc đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền: chị Nguyễn Thị H nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn C nên đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 điều 28 – Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn C có hộ khẩu thường trú tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 – Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn: chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị H theo quy định tại điều 228 – Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần tới phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn C, theo quy định tại điều 227 và điều 228 – Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn C là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp. Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn C chung sống hạnh phúc được thời gian đầu sau khi kết hôn thì đến năm 2018 bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau và từ năm 2018 đến nay thì vợ, chồng đã sống ly thân với nhau không còn quan tâm đến nhau. Theo xác nhận của Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nơi cư trú của chị H và anh C thì nguyên nhân mâu thuẫn là do chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn C là do tính tình không hợp nhau và đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Xét mâu thuẫn như vậy là trầm trọng kéo dài, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H là cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
[4] Về nuôi con chung: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn C có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 24 tháng 8 năm 2009 và cháu Nguyễn Đình C1, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2011. Xét thấy chị Nguyễn Thị H có nguyện vọng được nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi con. Trong đơn trình bày nguyện vọng của cháu M và cháu C1 thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ, ngoài ra chị H và anh C sống ly thân từ năm 2018 đến nay thời gian đó cháu M và cháu C1 được chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, trong thời gian sống ly thân thì anh Nguyễn Văn C không có trách nhiệm và không quan tâm đến các cháu. Do vậy cần giao cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 24 tháng 8 năm 2009 và cháu Nguyễn Đình C1, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2011 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H là tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn C.
[5] Về chia tài sản chung: chị Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: áp dụng điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51, điều 56 điều 58, điều 81, điều 82, điều 83 và điều 84 - Luật hôn nhân và gia đình, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn C.
-
Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 24 tháng 8 năm 2009 và cháu Nguyễn Đình C1, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2011 cho chị Nguyễn Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc các cháu thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản riêng tự nuôi mình.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn C do chị Nguyễn Thị H không có yêu cầu.
Anh Nguyễn Văn C có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật thì có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản: đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị H đã nộp đủ số tiền trên theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012236, ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Viết Hà |
5
6
Bản án số 35/2024/HNGÐ - ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 35/2024/HNGÐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án
