|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày: 24 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Đoàn Minh Hương.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thùy và ông Lê Thế Kỳ.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường là Thư ký viên tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST – HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST – HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Quang Đ (tên gọi khác: B), sinh năm 1994, tại tỉnh Đắk Nông; nơi thường trú: Tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N và bà Hà Thị H (đã chết).
Tiền án: 01 tiền án, cụ thể: Ngày 19-10-2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xử phạt 04 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (Bản án số 52/2018/HS-ST). Ngày 27-4-2020 chấp hành xong hình phạt, đóng nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Về phần trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh B1 số tiền 9.841.250 đồng, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nhưng đến nay bị cáo chưa thi hành xong, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: 02 tiền sự, cụ thể:
Ngày 13-09-2023, bị Công an phường N, thành phố G xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 621/QĐ-XPHC, bị cáo đã thực hiện xong quyết định xử phạt.
Ngày 10-01-2024, bị Công an phường N, thành phố G xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 633/QĐ-XPHC, bị cáo đã thực hiện xong quyết định xử phạt.
Nhân thân bị cáo: Ngày 21-11-2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số: 60/2018/HS-ST). Ngày 27-4-2020, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đóng nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo đã được xóa án tích theo quy định.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 23-01-2024, đang bị tạm giam theo Quyết định tạm giam số 32/2024/HSST-QĐTG ngày 26-4-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Bùi Mạnh C, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Quang Đ là đối tượng nghiện chất ma túy, loại Methamphetamine. Để có ma túy sử dụng, vào ngày 23-01-2024, Đ điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Sirius RS, màu đen - vàng, biển kiểm soát: 49H1-227.82, (xe của Bùi Mạnh C - em trai Đ) tìm mua ma túy về sử dụng. Do biết A (không rõ nhân thân, lai lịch) thường bán ma túy tại khu vực N thuộc thôn E, xã N, huyện Đ, nên Đ điều khiển xe mô tô đi đến địa điểm trên, rồi sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gọi qua ứng dụng M cho A, có tài khoản M mang tên “Anh” để hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy đá. Anh đồng ý, rồi yêu cầu Đ đi đến đoạn đường bê tông liên xã nối với xã N và xã Đ, thành phố G thuộc Thôn E, xã N, cách ngã ba Ngầm 18 (giao giữa đường bê tông liên xã với Quốc lộ A) khoảng 600 mét. Đến nơi, Đ gặp Anh đang đứng bên trái đường theo hướng xã N đi xã Đ. Đ dừng xe lại sát chỗ Anh đang đứng, đồng thời lấy 300.000 đồng đưa cho A. Anh đưa cho Đ một đoạn ống hút nhựa chứa ma túy đá, bên ngoài dán băng keo đen và được nhét trong một chiếc khẩu trang y tế màu trắng. Sau đó, Anh nói Đ đi ra đường Q đứng chờ A, để A dẫn vào nhà A chơi cho biết nhà. Đ cầm chiếc khẩu trang chứa đoạn ống hút có ma túy đá bỏ vào túi quần Jean màu đen phía trước, bên phải của Đ đang mặc, rồi điều khiển xe mô tô quay ngược ra đường Q (ngã ba Ngầm 18) và đứng chờ Anh tại sân bê tông trước cổng nhà dân thuộc thôn E, xã N. Lúc này trong lúc Đ đang đứng chờ A, thì lực lượng Công an huyện Đ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ số ma túy trên.
Tại bản kết luận giám định số: 79/KL-KTHS ngày 26-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu đỏ, sọc trắng, kích thước (04 x 01) cm (bên ngoài đoạn ống hút được bọc bằng băng keo màu đen) được niêm phong trong bì thư có ghi “Mẫu vật” gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 0,4008 gam.
Cáo trạng số 37/CT-VKS-ĐL ngày 22 tháng 4 năm 2024, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Bùi Quang Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Quang Đ. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bùi Quang Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Quang Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt. tạm giữ, tạm giam ngày 23-01-2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra quyết định xử lý vật chứng số 394/QĐ-CQĐT trả lại chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Sirius RS màu đen - vàng, biển kiểm soát: 49H1-227.82 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Bùi Mạnh C.
- Tịch thu, tiêu hủy gồm:
- 0,3750 gam ma túy, loại Methamphetamine, thu giữ của Bùi Quang Đ (được hoàn lại sau giám định); 01 chiếc khẩu trang y tế màu trắng, có hai lớp vải, kích thước 20x8cm, lớp vải trong có vết rách nằm ngang dài 4,6cm.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.
Đối với đối tượng tên Anh đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Đ, quá trình điều tra xác minh, không xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng Anh nên không có cơ sở để xử lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:
Ngày 23-01-2024, tại Thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, bị cáo Bùi Quang Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,4008 gam ma túy, loại Methamphetamine trên người, nhằm mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số ma túy trên.
Tại bản kết luận giám định số: 79/KL-KTHS ngày 26-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu đỏ, sọc trắng, kích thước (04 x 01) cm (bên ngoài đoạn ống hút được bọc bằng băng keo màu đen) được niêm phong trong bì thư có ghi “Mẫu vật” gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 0,4008 gam.
Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"
...”
[3] Tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận việc sử dụng điện thoại Iphone gọi qua ứng dụng M để liên lạc với A (đối tượng bán ma túy), bị cáo cho rằng mình sử dụng ứng dụng Messenger thông qua máy tính để liên lạc. Tuy nhiên, căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra (bản tự khai, biên bản ghi lời khai của bị cáo tại các bút lục từ 55-66 và từ 70-74) đều thể hiện bị cáo tự khai nhận mình sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gọi qua ứng dụng Messenger cho A. Bị cáo cũng thừa nhận quá trình điều tra không bị ép cung, nhục hình, việc thay đổi tại phiên tòa thì bị cáo không có tài liệu, chứng cứ chứng mình, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét chấp nhận.
[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; hệ lụy hành vi phạm tội của bị cáo còn có thể gây ra những tác động tiêu cực cho xã hội và phát sinh các loại tội phạm khác, ngoài ra còn xâm phạm trực tiếp đến tình hình trật tự trị an của địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó phải xử lý nghiêm thì mới đủ tác dụng giáo dục người phạm tội và phòng ngừa loại tội phạm này.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Bùi Quang Đ có 01 tiền án: Ngày 19-10-2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xử phạt 04 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (Bản án số 52/2018/HS-ST). Ngày 27-4-2020 chấp hành xong hình phạt, đóng nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Về phần trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh B1 số tiền 9.841.250 đồng, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nhưng đến nay bị cáo chưa thi hành xong, chưa được xóa án tích.
Bị cáo đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích nhưng vẫn cố tình tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về tiền sự: 02 tiền sự, cụ thể:
Ngày 13-09-2023, bị Công an phường N, thành phố G xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 621/QĐ-XPHC, bị cáo đã thực hiện xong quyết định xử phạt.
Ngày 10-01-2024, bị Công an phường N, thành phố G xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 633/QĐ-XPHC, bị cáo đã thực hiện xong quyết định xử phạt.
Bị cáo chưa được xóa đối với 02 tiền sự trên.
[7] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 21-11-2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số: 60/2018/HS-ST). Ngày 27-4-2020, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đóng nộp án phí hình sự sơ thẩm, đã được xóa án tích.
[8] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về hành vi phạm tội của mình, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[9] Về hình phạt bổ sung: Xét, bị cáo không có thu nhập và tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Sirius RS màu đen - vàng, biển kiểm soát: 49H1-227.82, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Bùi Mạnh C. Anh C cho bị cáo Bùi Quang Đ mượn và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Đ, cũng không biết việc bị cáo Đ sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi mua ma túy. Do đó ngày 05-4-2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra quyết định xử lý vật chứng số 394/QĐ-CQĐT trả lại chiếc xe cho anh Bùi Mạnh C là có căn cứ chấp nhận.
Đối với 0,3750 gam ma túy, loại Methamphetamine, thu giữ của Bùi Quang Đ (được hoàn lại sau giám định); 01 chiếc khẩu trang y tế màu trắng, có hai lớp vải, kích thước 20x8cm, lớp vải trong có vết rách nằm ngang dài 4,6cm, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
[11] Đối với đối tượng tên Anh đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Bùi Quang Đ, quá trình điều tra xác minh, không xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng Anh nên không có cơ sở để xử lý.
[12] Xét quan điểm và đường lối xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[13] Về án phí: Bị cáo Bùi Quang Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Bùi Quang Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Bùi Quang Đ 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 23-01-2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra quyết định xử lý vật chứng số 394/QĐ-CQĐT trả lại chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Sirius RS màu đen - vàng, biển kiểm soát: 49H1-227.82 cho anh Bùi Mạnh C.
Tịch thu, tiêu hủy: 0,3750 gam ma túy, loại Methamphetamine, thu giữ của Bùi Quang Đ (được hoàn lại sau giám định); 01 chiếc khẩu trang y tế màu trắng, có hai lớp vải, kích thước 20x8cm, lớp vải trong có vết rách nằm ngang dài 4,6cm.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.
(Có đặc điểm như trong trong biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24-4-2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R'Lấp)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Quang Đ phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Mai Đoàn Minh Hương |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 23-01-2024, tại Thôn a, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, bị cáo Bùi Quang Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,4008 gam ma túy, loại Methamphetamine trên người, nhằm mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số ma túy trên.
