Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM MỸ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày 24-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hà Thế Nam
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thanh Khôngông Trần Minh Tiến
Thư ký phiên tòa: ông Vũ Đình Bách – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham
gia phiên tòa: bà Phạm Thị Thanh – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) huyện C, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 08/5/2024 đối với bị cáo:

Trần Văn D, sinh ngày: 10/10/1992, tại Đồng Nai, CCCD số: [...]; nơi thường trú và cư trú: đường số C, tổ B, ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn S, sinh năm: 1962 và bà Xú Xám M, sinh năm: 1963; gia đình có 05 anh, chị, em; bị cáo thứ 4; vợ: Lê Thị Phương D1, sinh năm 1994 (đã ly hôn) có 01 con chung sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 01/2018/HSST ngày 09/01/2018) và bị Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án là 01 năm 06 tháng tù (bản án số 27/2018/HSST ngày 21/5/2018); đã chấp hành xong ngày 27/4/2019 và thuộc trường hợp đã xóa án tích.

Bị bắt, tạm giữ và tạm giam từ ngày 13/01/2024 cho đến nay. (Có mặt)

Bị hại: bà Trần Thị Ngọc L, sinh năm: 1970 và chị Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm: 1994, cùng địa chỉ: tổ B, ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai (do bà L đại diện – VBUQ ngày 15/01/2024); (Vắng mặt)

1

Người làm chứng:

  1. Trần Ngọc B, sinh năm: 1994, địa chỉ: O, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; (Vắng mặt)
  2. Phạm Văn S1, sinh năm: 1973, địa chỉ: đường số G, ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài, Trần Văn D nảy sinh ý định đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 13/01/2024 D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển kiểm soát 60H1-253.14 đi từ xã S, huyện T đến huyện C. Khi đi đến ấp C, xã X, huyện C, D phát hiện nhà bà Trần Thị Ngọc L đang tổ chức đám cưới, nên nảy sinh ý định vào bên trong trộm cắp tài sản. D để xe bên hông Trạm xăng, đi bộ vào bên trong đám cưới như người đi dự tiệc cưới. Sau đó tiếp tục đi vào bên trong nhà, đầu tiên D đi vào phòng ngủ thứ 3, phát hiện trên giường ngủ có ví da màu đen của bà L nên D đã mở ví ra lấy số tiền 1.400.000 đồng. D tiếp tục đi sang phòng ngủ thứ 2, phát hiện trên giường ngủ có một ví da màu nâu của chị Trần Thị Ngọc N1 (con gái bà L) nên mở ra và lấy 5.000.000 đồng cùng 30.000 Yên Nhật. Sau khi lấy được tiền D bỏ vào trong túi quần, khi vừa bước ra khỏi phòng ngủ thứ 2 thì gặp Trần Ngọc B (là bạn của chị N1) nên D đã đi vào nhà vệ sinh để giả vờ mình là khách đi dự đám cưới. Anh B cảm thấy nghi ngờ nên đã gọi điện thoại cho chị N1 vào kiểm tra lại tài sản thì phát hiện đã mất số tiền nêu trên. Anh B yêu cầu D đi ra, D vừa mở cửa bước ra thì anh B dùng tay giữ D lại. Để tẩu thoát, D dùng tay hất tay anh B ra nên anh B đã dùng tay đấm vào mặt D để khống chế. Tuy nhiên, D đã dùng tay đấm vào ngực anh B rồi nhanh chóng chạy ra hướng sau nhà để tẩu thoát. Khi D vừa nhảy lên hàng rào thì bị chị N1 kéo lại, anh B cùng một số người dân chạy đến khống chế, bắt giữ D và trình báo Công an xã X xử lý.

Kết luận giám định giá trị tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 20/02/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: 30.000 Yên Nhật có giá trị là 4.903.500 đồng.

* Về vật chứng vụ án:

  • + 01 xe mô tô Yamaha Exciter, biển kiểm soát 60H1-253.14 và giấy chứng nhận đăng ký xe. Hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ quản lý.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh, số máy MG9E3LL/A. Quá trình điều tra xác định là tài sản của Trần Văn D, không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Công an huyện C đã xử lý: trả lại cho D theo quy định.
  • + Số tiền 30.000 Yên Nhật và 6.400.000 đồng. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị Ngọc L và chị Nguyễn Thị Ngọc N. CQCSĐT đã xử lý: trả lại toàn bộ số tiền nêu trên cho bị hại theo quy định.
  • * Về trách nhiệm dân sự: bà Trần Thị Ngọc L và chị Nguyễn Thị Ngọc N đã

2

nhận lại được tài sản và không yêu cầu gì thêm.

Bản cáo trạng số: 37/CT-VKSCM ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện C, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Trần Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo D mức án từ 02 năm đến 03 năm tù. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu phương tiện phạm tội là 01 xe mô tô Yamaha Exciter, BKS 60H1-253.14 và giấy chứng nhận đăng ký xe. Về trách nhiệm dân sự: không ai yêu cầu nên đề nghị không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của CQCSĐT, Điều tra viên, VKSND và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, HĐXX nhận thấy: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành các thủ tục tố tụng và thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS); đảm bảo được quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố; quá trình điều tra các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của CQCSĐT, Điều tra viên, VKSND và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy: những người vắng mặt, gồm: các bị hại, người làm chứng nhưng đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng trong hồ sơ và không ai yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự; việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, 293 của BLTTHS.

[3] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai, bản cung của bị cáo đã được thu thập trong hồ sơ; phù hợp với lời khai của các bị hại, những người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó xác định được: Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 13/01/2024 tại nhà của bà Trần Thị Ngọc L thuộc ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Trần Văn D đã có hành vi lén lút lấy trộm số tiền 30.000 Yên Nhật (bằng 4.903.500 đồng) và 6.400.000 đồng của bà L và chị Nguyễn Thị Ngọc N; tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 11.303.500 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương; đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS.

3

[4] Bị cáo là thanh niên trưởng thành, có sức khỏe và khả năng lao động, chỉ vì thích hưởng thụ, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm; không những vậy khi D bị người nhà bà L phát hiện, khống chế, bắt giữ thì D đã có hành vi dùng tay đấm vào ngực anh Trần Ngọc B để tẩu thoát nên VKSND huyện Cẩm Mỹ truy tố bị cáo D theo tình tiết định khung “Hành hung để tẩu thoát” theo điểm đ khoản 2 Điều 173 của BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét cần áp dụng hình phạt phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm răn đe, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

[7] Về xử lý vật chứng: toàn bộ số tiền mặt và tiền Y mà bị cáo chiếm đoạt và chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh, số máy MG9E3LL/A đã được CQCSĐT xử lý trả lại cho các bị hại và bị cáo phù hợp pháp luật nên không xử lý lại. Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, BKS 60H1-253.14 và giấy chứng nhận đăng ký xe là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo D, được bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện tội phạm nên cần tịch thu, phát mãi để sung vào công quỹ.

[8] Về trách nhiệm dân sự: không ai yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 173 của BLHS;

Tuyên bố bị cáo: Trần Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS

Xử phạt: bị cáo Trần Văn D 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt, tạm giữ và tạm giam: 13/01/2024.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của BLHS, Điều 106 của BLTTHS:

Tịch thu sung vào công quỹ 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 60H1-253.14, có kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe của bị cáo Trần Văn D. (Toàn bộ vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ quản lý theo biên bản bàn giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/4/2024)

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án

Buộc bị cáo Trần Văn D phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; riêng bị hại vắng mặt thì thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật tố tụng./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hà Thế N

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn D, “Trộm cắp tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger