Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VÕ NHAI

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày 23/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Triệu Thị Xuân và bà Dương Thị Hạnh.

Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lý, Thư ký Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thanh Nhã, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 12/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 12/9/2024, đối với các bị cáo:

  1. Mông Văn T, tên gọi khác: không; sinh ngày 08/02/1978, tại Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mông Văn M, đã chết và bà Triệu Thị T1; có vợ là Lương Thị L, có 02 con.

    Tiền án, tiền sự, nhân thân: không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2024 đến nay, có mặt.

  2. Nịnh Văn N, tên gọi khác: không; sinh ngày 23/3/1983, tại Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm K, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Cao Lan; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nịnh Văn H và bà Trần Thị C; chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự, nhân thân: không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2024 đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo N: Bà Lê Thúy H1, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, có mặt;

- Người chứng kiến:

  • + Anh Đặng Văn T2, sinh năm 1988, nơi cư trú: xóm Đ, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt;
  • + Anh Lục Văn Q, sinh năm 1982, nơi cư trú: xóm T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt;
  • + Anh Trần Ngọc H2, sinh năm 1980, nơi cư trú: xóm C, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 21/6/2024, Tổ công tác Công an huyện V phối hợp với Công an xã L làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Đ, xã L, huyện V phát hiện 01 nam thanh niên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen đỏ, biển kiểm soát 20B1 - 280.56 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tiến hành dừng xe, kiểm tra người nam giới khai tên là Nịnh Văn N và tự giác lấy từ lòng bàn tay trái ra giao nộp 01 gói được gói bằng giấy vệ sinh màu trắng bên trong có 01 gói giấy nhiều màu sắc bên trong chứa chất bột màu trắng, N khai nhận là ma túy loại Heroine, N vừa mua của người tên là “T” khoảng 40 tuổi, nhà ở xóm T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong, thu giữ số vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N theo quy định. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của N 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, 01 ống thủy tinh kín hai đầu chứa chất lỏng màu trắng in chữ NOVOCAIN 3%, 01 xi lanh nhựa và mũi kim tiêm trong túi nilon màu trắng có chữ Bơm tiêm sử dụng một lần, số tiền 60.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 20B1 – 280.56, đã qua sử dụng.

Căn cứ vào lời khai của Nịnh Văn N, hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm đối với Mông Văn T, sinh năm 1978, trú tại xóm T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Qua khám xét phát hiện thu giữ: 01 gói nilon bên ngoài được buộc dây cao su màu vàng bên trong chứa chất màu trắng tại túi quần đùi bên phải Tam đang mặc, T khai nhận đó là ma túy loại Heroine của T; số tiền 1.870.000 đồng tại túi quần đùi phía trước bên trái T đang mặc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, số tiền 100.000 đồng, 01 dao lam kim loại cũ, đã qua sử dụng tại đệm ngủ kê giữa gian nhà chính; số tiền 3.430.000 đồng tại túi quần bò để ở góc nhà; 01 cân điện tử màu bạc in chữ NOT LEGAL FORTRADE tại chuồng gà dưới gầm nhà sàn.

Ngày 25/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm đối với Mông Văn T, sinh năm 1978, trú tại xóm T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, kết quả không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất màu trắng thu giữ của Nịnh Văn N có khối lượng 0,315 gam, lấy toàn bộ số chất màu trắng trên đưa vào bì niêm phong ký hiệu B1 gửi giám định; Số chất màu trắng dạng cục thu giữ của Mông Văn T có khối lượng 1,760 gam, lấy toàn bộ số chất màu trắng dạng cục trên đưa vào bì niêm phong ký hiệu B2 gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 747/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: chất màu trắng dạng cục, bột trong bì niêm phong ký hiệu B1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,315 gam; chất màu trắng dạng cục trong mẫu B2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 1,760 gam.

Các bị cáo khai nhận: N là người nghiện ma túy loại Heroine, khoảng 11 giờ 30' ngày 21/6/2024 Nam một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen, BKS 20B1 280.56 đi đến nhà Mông Văn T mua ma túy để sử dụng. Khi đến nhà T, N hỏi mua 200.000 đồng ma túy và T đồng ý bán, sau khi đưa tiền N cùng T lên tầng 2 nhà sàn, T lấy từ trong túi quần đang mặc ra 01 gói nilon đựng ma túy màu trắng loại Heroine dạng cục rồi dùng tay chia nhỏ phần ma túy đựng vào một mảnh giấy xé từ quyển sách học sinh để trong nhà gói lại đưa cho N. Sau khi mua được ma túy N đi về, trên đường đi do trời mưa nên N lấy mảnh giấy vệ sinh mang theo bọc bên ngoài gói ma túy vừa mua được rồi đi tìm địa điểm vắng người để sử dụng. Khi đi đến đoạn đường bê tông thuộc xóm Đ, xã L, huyện V thì bị Công an huyện V bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Mông Văn T khai nhận nguồn gốc số ma túy bị khám xét phát hiện ngày 21/6/2024 là của Tam mua của một người phụ nữ không quen biết tại khu vực phía sau chợ N1, phường C, thành phố T chiều tối ngày 20/6/2024 với giá 2.000.000 đồng, mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Ngày 21/6/2024 N đến nhà hỏi mua ma túy của T, do quen biết nên T đã bán lại cho N một phần ma túy với số tiền 200.000 đồng, số còn lại Tam tàng trữ để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán kiếm lời.

Vật chứng của vụ án:

  • 01 bì niêm phong ký hiệu B1 bên trong có 0,297 gam mẫu B1 và vỏ bao gói mẫu;
  • 01 bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có 1,737 gam mẫu B2 và vỏ bao gói mẫu;
  • 01 bì niêm phong ký hiệu V1 bên trong có 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng, 01 mảnh giấy nhiều màu in nhiều chữ, 01 vỏ phong bì ký hiệu M;
  • 01 bì niêm phong ký hiệu V2 bên trong có 01 mảnh nilon, 01 dây cao su màu vàng, 01 vỏ phong bì ký hiệu A1;
  • 01 phong bì niêm phong ký hiệu M1 bên trong có 01 bỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, 01 ống thủy tinh in chữ NOVOCAIN 3% bên trong chứa chất lỏng màu trắng, 01 túi nilon màu trắng chứa 01 bơm kim tiêm loại sử dụng một lần;
  • 01 phong bì niêm phong ký hiệu A5 bên trong có 01 cân điện tử màu bạc;
  • 01 phong bì niêm phong ký hiệu S bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng;
  • 01 dao lam kim loại, cũ đã qua sử dụng;
  • Số tiền 5.460.000 đồng.

Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai chờ xử lý.

01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 20B1 – 280.56, mang tên Triệu Thị L1, sinh năm 1980, trú tại xóm T, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; xác minh xác định năm 2012 chị L1 đã bán chiếc xe cho bà Trần Thị C, sinh năm 1958, trú tại xóm K, xã L, huyện V (là mẹ đẻ của N); ngày 21/6/2024 bà C cho N mượn xe để đi làm, Nam không nói và bà C không biết N sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy; chiếc xe không phải là vật chứng trong vụ án khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại chiếc xe cho bà Trần Thị C quản lý, sử dụng.

Cáo trạng số 34/CT-VKSVN ngày 09/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Mông Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố Nịnh Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:

Tuyên bố bị cáo Mông Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nịnh Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mông Văn T từ 30 đến 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước; áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước; áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt, buộc Tam chấp hành chung cho cả hai tội từ 66 tháng đến 78 tháng tù; phạt bổ sung bị cáo T số tiền 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nịnh Văn N từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu B1 bên trong có 0,297 gam mẫu B1 và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có 1,737 gam mẫu B2 và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu V1 bên trong có 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng, 01 mảnh giấy nhiều màu in nhiều chữ, 01 vỏ phong bì ký hiệu M; 01 bì niêm phong ký hiệu V2 bên trong có 01 mảnh nilon, 01 dây cao su màu vàng, 01 vỏ phong bì ký hiệu A1; 01 phong bì niêm phong ký hiệu M1 bên trong có 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, 01 ống thủy tinh in chữ NOVOCAIN 3% bên trong chứa chất lỏng màu trắng, 01 túi nilon màu trắng chứa 01 bơm kim tiêm loại sử dụng một lần; 01 dao lam kim loại, cũ đã qua sử dụng; 01 cân điện tử màu bạc;

+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Mông Văn T;

+ Tạm giữ số tiền 60.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho Nịnh Văn N; tạm giữ số tiền 5.200.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án cho Mông Văn T;

- Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo N.

Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo N trình bày luận cứ bào chữa: Nhất trí với tội danh, điều luật như nội dung Bản cáo trạng truy tố và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo N.

Tại lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 21/6/2024, tại khu vực xóm Đ, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Nịnh Văn N đã có hành vi tàng trữ 0,315 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Nguồn gốc số ma túy của N là do N mua của Mông Văn Tam .

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 21/6/2024 tại khu vực xóm T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Mông Văn T đã có hành vi bán cho Nịnh Văn N 0,315 gam ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng, ngoài ra Mông Văn T còn có hành vi tàng trữ 1,760 gam ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân.

[3] Lời khai của các bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo Nịnh Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Mông Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;

c) Heroine, ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Điều 251 Bộ luật Hình sự:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

[4] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là mối hiểm họa cho cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy: các bị cáo đều không có tiền án tiền sự, nhân thân tốt ; trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bố đẻ bị cáo T được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng Ba, mẹ đẻ bị cáo được thưởng Huy chương Kháng chiến hạng Nhì nên bị cáo T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt chính áp dụng đối với các bị cáo: xét thấy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo Tam phạm hai tội nên cần áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc chấp hành chung cho cả hai tội.

[7] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo N là người nghiện ma tuý, tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán kiếm lời; xác minh tại nơi cư trú của bị cáo xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, hiện đang sống cùng gia đình, không có tài sản gì riêng có giá trị, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo N.

Bị cáo Mông Văn T tàng trữ ma túy để sử dụng và đã bán kiếm lời, bị cáo có tài sản riêng có giá trị, gia đình không thuộc diện hộ nghèo hay cận nghèo nên cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước.

[8] Về vật chứng của vụ án:

01 bì niêm phong ký hiệu B1 bên trong có 0,297 gam mẫu B1 và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có 1,737 gam mẫu B2 và vỏ bao gói mẫu là vật chứng của vụ án cấm tàng trữ, lưu hành; 01 bì niêm phong ký hiệu V1 bên trong có 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng, 01 mảnh giấy nhiều màu in nhiều chữ, 01 vỏ phong bì ký hiệu M; 01 bì niêm phong ký hiệu V2 bên trong có 01 mảnh nilon, 01 dây cao su màu vàng, 01 vỏ phong bì ký hiệu A1; 01 phong bì niêm phong ký hiệu M1 bên trong có 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, 01 ống thủy tinh in chữ NOVOCAIN 3% bên trong chứa chất lỏng màu trắng, 01 túi nilon màu trắng chứa 01 bơm kim tiêm loại sử dụng một lần; 01 dao lam kim loại, cũ đã qua sử dụng; 01 cân điện tử màu bạc các vật chứng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Trong số tiền thu giữ của Mông Văn T có 200.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy cho bị cáo N nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền trên.

Số tiền 60.000 đồng thu giữ của Nịnh Văn N không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho N;

Số tiền 5.200.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Mông Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo T.

[9] Về các vấn đề khác:

  • - Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Mông Văn T, T khai mua của một người phụ nữ không rõ tên tuổi, địa chỉ tại khu vực chợ N1, phường C, thành phố T ngày 20/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý là phù hợp quy định pháp luật.
  • - Nịnh Văn N khai trước đó mua ma túy của Mông Văn T nhiều lần, nhưng N không nhớ chính xác thời gian, khối lượng ma túy, số tiền đã mua; bản thân Mông Văn T không thừa nhận việc bán ma túy cho N trước ngày 21/6/2024, ngoài lời khai của N không có tài liệu nào khác để chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý là phù hợp quy định pháp luật.
  • - Đối với bà Trần Thị C là mẹ đẻ bị cáo N, ngày 21/6/2024 bà C cho N mượn xe mô tô BKS 20B1 – 280.56 nhưng không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại chiếc xe cho bà C và không xử lý hành vi của bà C là phù hợp quy định pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; bị cáo N là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo N.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Mông Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nịnh Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    • -Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mông Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy;
    • Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt. Buộc bị cáo Mông Văn T chấp hành chung cho cả hai tội là 72 (bẩy mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.
    • Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo Mông Văn T 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
    • Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo Mông Văn T 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
    • Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt. Buộc bị cáo Mông Văn T chấp hành hình phạt bổ sung chung cho cả hai tội là 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
    • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nịnh Văn N 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.
    • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo N.
  3. Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu B1 bên trong có 0,297 gam mẫu B1 và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có 1,737 gam mẫu B2 và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu V1 bên trong có 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng, 01 mảnh giấy nhiều màu in nhiều chữ, 01 vỏ phong bì ký hiệu M; 01 bì niêm phong ký hiệu V2 bên trong có 01 mảnh nilon, 01 dây cao su màu vàng, 01 vỏ phong bì ký hiệu A1; 01 phong bì niêm phong ký hiệu M1 bên trong có 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, 01 ống thủy tinh in chữ NOVOCAIN 3% bên trong chứa chất lỏng màu trắng, 01 túi nilon màu trắng chứa 01 xi lanh nhựa và mũi tiêm kim loại; 01 dao lam kim loại, cũ đã qua sử dụng; 01 cân điện tử màu bạc đã cũ được chứa trong phong bì ký hiệu A5;
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: số tiền 200.000 đồng thu giữ của Mông Văn T;
    • - Tạm giữ số tiền 60.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho Nịnh Văn N, T3 giữ số tiền 5.200.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án cho Mông Văn Tam .

    Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 42 ngày 04/9/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, ủy nhiệm chi số 7 ngày 28/8/2024.

  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Mông Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nịnh Văn N.
  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND huyện Võ Nhai;
  • - Công an huyện Võ Nhai;
  • - Chi cục THADS huyện Võ Nhai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự về tội tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nịnh Văn N và Mông Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger