Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM DƠI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày 23-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ý

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà

Ông Tạ Thanh Bự - Hiệu trưởng trường THCS Dương Thị Cẩm Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Chinh là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

- Bị cáo thứ nhất:

Họ và tên: Bùi Nhựt D; sinh ngày 19/9/2006 tại tỉnh Cà Mau (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 06 tháng 02 ngày); nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Phương N và bà Nguyễn Kiều T; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt quả tang ngày 21/3/2024 (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Nhựt D:

+ Ông Bùi Phương N; Sinh năm: 1983; Là cha của bị cáo (có mặt).

+ Bà Nguyễn Kiều T; Sinh năm: 1986; Là mẹ của bị cáo (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Nhựt D: Ông Trần Hoàng H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C (có mặt).

- Bị cáo thứ hai:

Họ và tên: Lê Bảo T1; sinh ngày 12/02/1986 tại tỉnh Cà Mau; địa chỉ cư trú: Khóm E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tấn L và bà Trịnh Thị V; có chồng tên Nguyễn Trung T2 và 02 người con; tiền án: không; tiền sự: 01 lần, ngày 12/7/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 25/11/2023; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/4/2024 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 21/3/2024, lực lượng Công an thị trấn Đ, huyện Đ trong lúc đi tuần tra trên đường T thuộc khóm E, thị trấn Đ, huyện Đ, khi đến đầu cầu L thì phát hiện Bùi Nhựt D sinh ngày 19/9/2006 và Trần Vũ L1 sinh năm 2004 có biểu hiện nghi vấn. Lực lượng làm nhiệm vụ tiến hành kiểm tra thì phát hiện trong người của D đang cất giấu 01 bọc nilon được hàn kín, bên trong có chứa nhiều tinh thể rắn, màu trắng (nghi là ma túy) và 01 ống thủy tinh với một đầu hình cầu (dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá). Quá trình điều tra đã xác định được như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/3/2024, Bùi Nhựt D cùng với Trần Vũ L1, Nguyễn Minh T3, Triệu Việt H1, Nguyễn Trung N1 tổ chức nhậu tại phòng trọ của D ở khóm E, thị trấn Đ, huyện Đ. Nhậu được một lúc thì D kêu L1 chở D đi đến cửa hàng điện thoại Trần Hải S ở khóm D, thị trấn Đ để cầm tài khoản Icloud của chiếc điện thoại Iphone 12 của D (để lấy tiền mua ma túy). Sau khi cầm được tài khoản Icloud được 500.000 đồng, D kêu L1 chở D đến nhà của Lê Bảo T1 ở khóm E, thị trấn Đ, huyện Đ. Đến nơi, L1 dừng xe lại cho D xuống xe, D hỏi mượn của L1 50.000 đồng rồi đi vào nhà của T1, còn L1 sang quán nước đối diện mua một chai nước rồi cũng sang nhà T1 cùng với D. Lúc này, T1 đang ở trong nhà, thấy D thì T1 đi ra gặp, D hỏi T1 có đồ (tức là ma túy đá) chia lại cho D 500.000 đồng và 01 dụng cụ để sử dụng (ống thủy tinh với một đầu hình cầu), T1 đồng ý nên D đưa cho T1 550.000 đồng (gồm 500.000 đồng tiền ma túy và dụng cụ sử dụng giá 50.000 đồng); T1 đi vào nhà lấy 01 bọc ma túy đá và 01 dụng cụ để sử dụng đưa cho D; D lấy tất cả bỏ vào bên trong quần lót rồi cùng với L1 đi ra xe thì bị lực lượng Công an thị trấn Đ kiểm tra và bắt quả tang thu giữ tang vật nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định số 158/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận như sau: Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon được hàn kín, niêm phong trong phong bì màu trắng hình chữ nhật gửi giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,2922 gam, loại Methamphetamine. Ống thủy tinh (dạng nỏ hút) một đầu ống thủy tinh có dấu vỡ, bên trong ống thủy tinh không tìm thấy chất ma túy.

Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Bùi Nhựt D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Lê Bảo T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại biên bản làm việc ngày 12/8/2024, bị cáo T1 đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 91 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Nhựt D, xử phạt bị cáo D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Bảo T1, xử phạt bị cáo T1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 158/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh C, số lượng 01 cái, đặc điểm niêm phong.

Người bào chữa cho bị cáo D thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo D theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình có công với Cách mạng, đồng thời đề nghị xem xét các tình tiết khác để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng, chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình quá khó khăn nên chưa có sự quan tâm đúng mức đối với bị cáo và chính sách pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội.

Bị cáo D thừa nhận hành vi của bị cáo đúng như cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Lê Bảo T1 đề nghị xét xử vắng mặt, xét thấy lời khai của bị cáo tại hồ sơ đã rõ nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của bị cáo, tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự.

[2] Về tội danh:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Bùi Nhựt D, Lê Bảo T1 đã thừa nhận vào khoảng 13 giờ ngày 21/3/2024, tại nhà của bị cáo Lê Bảo T1 thuộc khóm E, thị trấn Đ, huyện Đ, bị cáo T1 đã bán ma túy cho bị cáo Bùi Nhựt D để sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị trấn Đ tiến hành lập biên bản bắt quả tang thu giữ 01 gói ma túy trên người của bị cáo D có khối lượng 0,2922 gam loại Methamphetamine chính là gói ma túy mà bị cáo T1 đã bán cho bị cáo D. Xét thấy lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của chính các bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; bị cáo T1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố đối với các bị cáo.

[3]. Về trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người sử dụng, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.

Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu về ma túy cho bản thân hoặc tư lợi cá nhân. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt tương xứng với hành vi đã gây ra. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Đối với bị cáo D mặc dù tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là 17 tuổi 06 tháng 02 ngày nhưng trước đó đã sử dụng ma túy, gia đình không thể quản lý, giáo dục nên cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đáp ứng yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm, đảm bảo nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại khoản 6 Điều 91 của Bộ luật Hình sự.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo T1 có 01 tiền sự về hành vi sử dụng chất ma túy. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo T1 khi phạm tội đang có thai, bị cáo D có ông nội được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Do đó Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo D, điểm n, s

khoản 1 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T1 nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ là 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 158/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh C chứa 01 (một) bọc nilon được hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng được giám định là ma túy là chất cấm tàng trữ, lưu hành và 01 (một) ống thủy tinh có một đầu dạng hình cầu không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6]. Đối với các đối tượng Trần Vũ L1, Nguyễn Minh T3, Triệu Việt H1, Nguyễn Trung N1, quá trình điều tra chưa đủ căn cứ chứng minh có vai trò đồng phạm với bị cáo D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” xảy ra ngày 21/3/2024 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không đề nghị xử lý hình sự là có căn cứ.

[7]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo, xử lý vật chứng là phù hợp nên chấp nhận. Về lời bào chữa của người đại diện hợp pháp của bị cáo D, Hội đồng xét xử chấp nhận các tình tiết theo quy định pháp luật như các phân tích nêu trên.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Nhựt D; khoản 1 Điều 251, điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Bảo T1.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, điểm c khoản 2 Điều 290, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Nhựt D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Lê Bảo T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về trách nhiệm hình sự:

Xử phạt bị cáo Bùi Nhựt D 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 21/3/2024.

Xử phạt bị cáo Lê Bảo T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 158/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh C, số lượng 01 cái, đặc điểm niêm phong.

Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/6/2024.

4. Về án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo Bùi Nhựt D, Lê Bảo T1 mỗi bị cáo phải nộp phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo D, ông N, bà T, người bào chữa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Công an huyện Đầm Dơi;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Ý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Nhựt D bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Lê Bảo T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger