Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/5/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh.

Hội Thẩm nhân dân: Ông Ngô Bá Tiến.

Bà Nguyễn Thị Bẩy.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2024/TLST-HNGĐ ngày 23/02/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QÐST-HNGĐ ngày 22/4/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hà Thị Y, sinh năm 1999. HKTT: Xóm T, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Trần Quang H, sinh năm 1999. HKTT: Thôn P, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Đài Loan (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Hà Thị Y trình bày: Qua quá trình tìm hiểu tự nguyện, chị và anh Trần Quang H đã tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 17/9/2019 tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Khoảng tháng 6/2022, anh H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian ban đầu, anh H thường xuyên gọi điện thoại về nhà để hỏi thăm vợ, con và hàng tháng gửi tiền về để chăm sóc con cái. Nhưng dần dần do khoảng cách địa lý và tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng gọi điện thoại ít hơn và thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm.

Hiện nay anh H đang làm việc ở Đài Loan, chị đã nhiều lần gọi điện trực tiếp hỏi anh H, bố, mẹ, chị gái của anh H nhưng anh H và người thân đều không cung cấp địa chỉ cụ thể.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Ngọc N, sinh ngày 26/02/2019, cháu Trần Anh T, sinh ngày 24/10/2021. Hiện cả 02 cháu đều đang ở với chị, khi ly hôn chị xin được nuôi cả 02 cháu và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, công nợ: Không có.

Do công việc bận, nên chị Y xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Trần Quang H đã được Tòa án thông báo, triệu tập nhiều lần thông qua người thân và thực hiện việc niêm yết, nhưng anh H không gửi văn bản và không cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cho Tòa án.

Tòa án đã tiến hành làm việc với chị Trần Thị Hồng L là chị ruột anh H, chị L trình bày: Chị là chị ruột của anh Trần Quang H, sinh năm 1999. HKTT: Thôn P, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Theo chị được biết, qua quá trình tìm hiểu tự nguyện, em trai chị Trần Quang H và Hà Thị Y có đăng ký kết hôn ngày 17/09/2019 tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Em trai chị và em Y có 02 con chung là cháu Trần Ngọc N, sinh ngày 26/02/2019 và cháu Trần Anh T sinh ngày 24/10/2021, hiện 02 cháu đều do em Y nuôi dưỡng chăm sóc.

Năm 2022, em Trần Quang H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Địa chỉ cụ thể ở Đài Loan của H thì chị không biết, H vẫn thường xuyên liên lạc, gọi điện với chị và gia đình bằng điện thoại. Sau khi được Tòa án thông báo việc thụ lý yêu cầu của em Y với em H thì chị đã thông báo cho H biết và hỏi địa chỉ cụ thể của H ở Đài Loan nhưng H không nói, H chỉ nói với chị cũng nhất trí ly hôn, nhưng bận việc nên sẽ không gửi văn bản về cho Tòa án.

Nay liên quan đến việc ly hôn giữa Y và H thì chị sẽ nhận thay cho H các văn bản tố tụng, bản án và chị cam kết sẽ giao lại những văn bản này cho H ngay trong ngày nhận được.

Tại phiên toà: Nguyên đơn chị Y có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, xử cho chị Hà Thị Y được ly hôn anh Trần Quang H. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Trần Ngọc N, sinh ngày 26/02/2019 và cháu Trần Anh T sinh ngày 24/10/2021 cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ: không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, chị Hà Thị Y đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với anh Trần Quang H và có nguyện vọng xin nuôi của 02 con chung. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn xin ly hôn của chị Hà Thị Y thì bị đơn là anh Trần Quang H có hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh và hiện đang cư trú, làm việc tại Đài Loan. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn anh Trần Quang H trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã 02 lần làm việc, yêu cầu chị L là chị ruột anh H cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài của anh H nhưng đều không cung cấp mặc dù anh H thường xuyên liên lạc về cho chị L và gia đình, do đó anh H thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Y và anh Trần Quang H kết hôn ngày 17/9/2019, tại thời điểm kết hôn chị Y và anh H đều đủ tuổi, đủ năng lực, đủ điều kiện kết hôn theo luật định và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh H là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, theo chị Y trình bày do khoảng cách địa lý, tình cảm vợ chồng không còn, dần dần vợ chồng gọi điện thoại ít hơn và thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng chị Y, anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị Y là có căn cứ, cần chấp nhận, xử cho chị Hà Thị Y được ly hôn anh Trần Quang H.

[2.2]. Về con chung: Chị Y trình bày, vợ chồng chị có 02 con chung là cháu cháu Trần Ngọc N, sinh ngày 26/02/2019 và cháu Trần Anh T sinh ngày 24/10/2021, cả 02 cháu đều đang ở với chị Y. Chị Y có nguyện vọng nuôi cả 02 con chung, mặt khác hiện nay anh H vẫn đang ở nước ngoài, do vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định của các cháu cần giao 02 con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Vấn đề cấp dưỡng chị Y không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Y trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị Hà Thị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị Y: Chị Hà Thị Y được ly hôn anh Trần Quang H.
  2. Giao 02 con chung là cháu Trần Ngọc N, sinh ngày 26/02/2019 và cháu Trần Anh T sinh ngày 24/10/2021 cho chị Hà Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Quang H được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Vấn đề cấp dưỡng: Không đặt ra giải quyết.

  3. Về án phí: Chị Hà Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Y đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000114 ngày 22/02/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã nơi cư trú của đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Y xin ly hôn anh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger