(Mẫu số 27-HS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP))
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày 23/5/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lô Xuân Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Anh Tú; Bà Lô Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Tăng Thành Vương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 24/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn T – Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1980, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: bản Na Lạnh, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Mù chữ; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T1 và bà Vi Thị V ; Vợ: Vi Thị H, con: 02 người; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024 cho đến nay.
Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T2 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N – Chi nhánh S.
Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 10/01/2024, bị cáo Lê Văn T đi xe máy từ nhà đến bản C, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An để đón anh Vi Văn N về nhà để chặt củi cho bị cáo. Trên đường đi đón anh N do bị cáo là người nghiện chất ma túy nên khi gặp một người đàn ông, bị cáo không biết tên và địa chỉ thấy giống người nghiện ma túy nên đã hỏi mua ma túy với người đàn ông đó và được người đó bán cho 02 gói ma túy Hê rô in với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo bỏ vào trong túi quần bên trái đang mặc và đến nhà anh N đón anh N về nhà mình, trên đường chở anh N về đến cầu gỗ thuộc bản N, xã D thì bị Công an xã D yêu cầu dừng xe kiểm tra, quá trình kiểm tra đã phát hiện trong túi quần bên trái của bị cáo đang mặc có 02 gói ni lon, 01 gói bằng ni lon màu vàng và 01 gói bằng ni lon màu hồng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng nghi là chất ma túy. Công an xã D đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và tạm giữ phương tiện đưa bị cáo và Vi Văn N về trụ sở Công an xã D để điều tra xử lý, sau đó đã bàn giao người cùng vật chứng cho Cơ quan điều tra Công huyện Q để điều tra xử lý theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận giám định số 169/KL- KTHS (Đ2-MT) ngày 16/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
- Hai mẫu chất rắn màu trắng (Ký hiệu M1, M2) thu giữ của Lê Văn T vào ngày 10/01/2024 gửi tới giám định là ma túy; loại Hê rô in. Số chất rắn màu trắng thu giữ của Lê Văn T vào ngày 10/01/2024 có tổng khối lượng là 0,105 gam.
Cáo trạng số 36/CT-VKS - HS, ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu truy tố bị cáo: Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
- Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 50; điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Vật chứng vụ án: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh bao ni lon và vỏ bo niêm phong cũ. Trả lại cho bị cáo 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER biển kiểm soát 37G1-16209.
- Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo tốt để sớm trở về với gia đình, cộng đồng bởi: Bị cáo là gười dân tộc thiểu số, các bị cáo sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, bị cáo là người mù chữ nên đã hạn chế nhất định về pháp luật, khối lượng chất ma túy tàng trữ để sử dụng ở mức khởi điểm của khung hình phạt. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị: Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 50, điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo mức khởi điểm của khung hình phạt.
Về hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng nhất trí như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo không tranh luận. Đề nghị cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo cải tạo tốt để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
2
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên thu thập, người bào chữavà những người tham gia tố tụng khác cung cấp đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ai có khiếu nại về hành vi tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và kiểm sát viên.
[2] Về nội dung:
- Căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo:
Bị cáo là người nghiện chất ma túy, sáng ngày 10/01/2014 bị cáo đến bản Cướm, xã D để đón Vi Văn N về nhà để chặt củi cho bị cáo, trên đường đi đã gặp một người đàn ông bị cáo không biết tên, địa chỉ và hỏi mua ma túy Hê rô in với người đàn ông đó và được người đó bán cho 02 gói hê rô in với số tiền là 200.000 đồng, sau khi mua được bị cáo đến đón N1 và trên đường chở N1 về nhà mình thì bị Công an xã D yêu cầu dừng xe kiểm tra, quá trình kiểm tra đã phát hiện và thu giữ trong túi quần bị cáo đang mặc 02 gói hê rô in mà bị cáo mới mua được. Bị cáo mua ma túy là nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, bị cáo mua ma túy là do một mình bị cáo thực hiện, số tiền dùng để mua ma túy là do bị cáo đi làm thuê mà có, khi bị cáo chở Vi Văn N thì N không biết bị cáo đang cất giữ ma túy trong người. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của Vi Văn N và vật chứng đã thu giữ được và phù hợp kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh N. Khối lượng chất ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng là 0,105 gam Hê rô in. Hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Như vậy cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng.
- Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó khi quyết định hình phạt xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3
- Đối với hành vi của người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa không xác định được là ai, ở đâu. Do đó không có căn cứ điều tra xử lý.
- Đối với hành vi của Vi Văn N đi cùng với bị cáo, nhưng N không biết bị cáo tàng trữ chất ma túy trong người nên Vi Văn N không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
[3] Vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra đã thu giữ tại bị cáo: 0,105 gam Hê rô in, quá trình điều tra đã trích lấy mẫu giám định hết; các mảnh bao nilon và vỏ bao niêm phong cũ. Đây là vật không có giá trị sử dụng. Thu giữ của bị cáo 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER biển kiểm soát 37G1-16209, đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo không phải là công cụ, phương tiện phạm tội. Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch Thu tiêu hủy các vật không có giá trị sử dụng. Trả lại chiếc xe máy cho bị cáo Lê Văn T.
[5] Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 50; điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Văn T 01 (Một) năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy . Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/01/2024.
- Vật chứng vụ án: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh bao ni lon màu vàng; 01 mảnh bao ni lon màu hồng và vỏ bao niêm phong cũ. Trả lại cho bị cáo 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA EXCITER biển kiểm soát 37G1-16209. Chi tiết các vật chứng được mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số: 32/QĐ-VKS ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu và biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Q và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu lập ngày 23/4/2024.
- Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
4 | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lô Xuân Diệu |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Thủy - TTTPCMT
