Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 23-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai Văn Tự;
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Đào.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tham gia phiên tòa: Ông Hồ Chí Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hồng Q, sinh ngày 14-7-1993, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 45, đường V, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi tạm trú: 244/3, đường M, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và 4, đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H và bà Trần Thị Mỹ H1; bị cáo có vợ và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 26-4-2017 bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành án phạt tù tại Trại giam P3 xong ngày 15-3-2018 (đã xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 17-11-2023, tạm giam từ ngày 26-11-2023 cho đến nay.
  2. Sĩ Chấn P, sinh ngày 15-12-1993, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 393, đường H, phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi tạm trú: 45, đường N, phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sĩ P1 và bà Nguyễn Thị T; bị cáo có vợ và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 15-11-2023, tạm giam từ ngày 24-11-2023 cho đến nay.
  3. Ngô Thị Thanh T1, sinh ngày 18-7-1995, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: C, đường V, phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi tạm trú: 413/90, đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Thanh M (đã chết) và bà Phan Thị Thu T2; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị hại: Ông Nguyễn Văn P2 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp:

  • Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1955; địa chỉ: Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. (là mẹ của bị hại)
  • Chị Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm: 1998; địa chỉ: A, tổ C, ấp L, xã L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. (là con của bị hại)
  • Anh Nguyễn Hữu Đ1, sinh năm 2000; địa chỉ: Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. (là con của bị hại)
  • Chị Nguyễn Thị Thanh T4, sinh năm 2007; địa chỉ: Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. (là con của bị hại)

Người đại diện theo ủy quyền của chị T3, anh Đ1, chị T4: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1955; địa chỉ: Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. (Văn bản ủy quyền ngày 22-02-2024) (vắng mặt)

Người làm chứng: Anh Dương Xuân C, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 12-11-2023, anh Dương Xuân C điều khiển xe ôtô hiệu Toyota Sienna biển số 51A-960.38 chở Sĩ Chấn P, Nguyễn Hồng Q và Ngô Thị Thanh T1 đi từ Thành phố Hồ Chí Minh đến huyện T, tỉnh Tây Ninh, để dự đám giỗ nhà bạn của Q. Tại đây, chỉ có P uống bia; còn Q, T1 và anh C không uống rượu, bia và không sử dụng chất ma túy. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe chở P, T1 và anh C đến nhà của chị Nguyễn Thị Xuân D tại khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh, nhưng chị D không có ở nhà nên chị D kêu Q, P, T1 và anh C đến nhà của anh Huỳnh Tấn T5 tại ấp N, xã B, Huyện D, để đợi chị D. Đến khoảng 02 giờ ngày 13-11-2023, do không thấy chị D đến nên Q điều khiển xe chở P, T1 và anh C về Thành phố Hồ Chí Minh.

Đến khoảng 03 giờ ngày 13-11-2023, khi đến đoạn đường G thuộc ấp K, xã C, Huyện D, Q thiếu quan sát do lấy mắt kính ra khỏi mắt rồi đeo lại nên Q điều khiển xe với tốc độ hơn 80 kilômét/giờ, va chạm vào xe môtô biển số 70G1-253.44 do ông Nguyễn Văn P2 điều khiển trên làn đường xe môtô cùng chiều phía trước đẩy văng xe môtô một đoạn hơn 75 mét, hậu quả làm ông P2 chết, còn xe do Q điều khiển chạy được một đoạn khoảng 120 mét thì dừng lại. Q cùng với anh C xuống xe để kiểm tra xe thì gặp ông Lâm Gia H2. Q hỏi ông H2 “Người đằng kia chết rồi hả chú” thì ông H2 trả lời “Trời ơi mầy đụng người ta chết sống mầy lại đó xem”. Q không quay lại mà điều khiển xe đi tiếp khoảng 02 kilômét thì Q dừng xe và kêu anh C điều khiển xe chở Q, P2 và T1 về nhà của Q tại 2, đường M, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Q kêu anh C đem xe đi sửa nên anh C liên hệ với chị Mai Thị T6 là chủ tiệm sửa xe ôtô tại số B, đường A, Khu B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để sửa xe. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện D mời P2 làm việc nhưng P2 khai báo gian dối xe ôtô biển số 51A-960.38 gia đình của P2 đã bán trước đó khoảng 05 tháng.

Đến ngày 14-11-2023, P2 gọi điện thoại nói với Q vụ tai nạn giao thông người bị nạn bị thương tích nhẹ chỉ cần bồi thường 20.000.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, P2 đến nhà của Q gặp Q và T1. Q gọi điện thoại cho anh C và mở loa lớn cho P2 và T1 cùng nghe. Q nói trong vụ tai nạn giao thông nạn nhân bị thương tích nhẹ chỉ cần bồi thường 20.000.000 đồng, rồi Q nhờ anh C đứng ra nhận là người điều khiển xe gây tai nạn, còn việc bồi thường để Q lo. Lúc này, anh C đang chạy xe dịch vụ và nói mẹ của anh C đang bệnh nên khi nào về sẽ đến Công an nhận là người điều khiển xe. Nghe vậy, T1 và P2 thống nhất với Q khi Công an mời làm việc sẽ khai anh C là người điều khiển xe gây tai nạn.

Từ ngày 15-11-2023 đến ngày 16-11-2023, khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện D làm việc, Q, P2 và T1 khai gian dối anh C là người điều khiển xe gây tai nạn. Đến ngày 17-11-2023, Q, P2 và T1 mới khai báo đúng sự thật Q là người điều khiển xe gây tai nạn. Do nghi vấn Q và P2 có biểu hiện sử dụng chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện D tiến hành kiểm tra nước tiểu của Q và P2 kết quả dương tính (Có sử dụng trái phép chất ma túy) và tiến hành kiểm tra trên người của P2 thu giữ vật chứng gồm: 02 bịch nylon màu trắng bên trong chứa chất bột, tinh thể màu trắng được niêm phong (Kí hiệu M1, M4), 01 bịch nylon màu đỏ có chữ Ferrari bên trong chứa chất bột màu cam được niêm phong (Kí hiệu M2), 01 chai nhựa màu trắng có chữ Trapha bên trong chứa chất bột màu trắng được niêm phong (Kí hiệu M3) và 01 cái bóp.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của P2 thu giữ trong phòng ngủ gồm: Chất bột màu trắng trên dĩa sứ được bỏ vào bịch nylon màu trắng được niêm phong (Kí hiệu M1), 03 bịch nylon màu trắng bên trong chứa chất bột, tinh thể màu trắng được niêm phong (Kí hiệu M2.1, M3), 01 bịch nylon màu trắng bên trong chứa 02 viên nén màu cam được niêm phong (Kí hiệu M2.2) và một số vật chứng có liên quan. Tất cả số ma túy này P2 mua của người thanh niên không rõ lý lịch tại Công viên L thuộc phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đem về cất giấu để sử dụng.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Q thu giữ trong phòng ngủ gồm: 03 bịch nylon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng được niêm phong (Kí hiệu M1, M2), 01 bịch nylon màu trắng có quấn dây thun bên trong chứa tinh thể màu trắng được niêm phong (Kí hiệu M3) và một số vật chứng có liên quan. Tất cả số ma túy này Q mua của người thanh niên tên B không rõ lý lịch trên đường thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đem về cất giấu để sử dụng.

Quá trình điều tra, Q, P2 và T1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Q đã bồi thường thiệt hại cho gia đình của bị hại, được gia đình của bị hại xin bãi nại. T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Kết luận giám định tử thi số 1757 ngày 23-11-2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Văn P2 là do chấn thương sọ não.

Kết luận giám định số 1790 ngày 23-11-2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu máu ghi thu của Nguyễn Văn P2 không có nồng độ cồn trong máu.

Kết luận giám định số 1808 ngày 28-11-2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất liệu màu đỏ bám trên 01 miếng nhựa màu vàng được thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường có thành phần hóa học cơ bản giống với thành phần hóa học cơ bản của chất liệu màu đỏ bám dính trên 01 miếng nhựa màu vàng được thu giữ tại vị trí đầu xe bên phải của xe ôtô hiệu Toyota biển số 51A-960.38. Chất liệu màu đỏ của 01 miếng nhựa màu đỏ của xe môtô biển số 70G1-253.44 được thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường có thành phần hóa học cơ bản giống thành phần hóa học cơ bản của chất liệu màu đỏ bám dính trên 01 miếng nhựa màu vàng được thu giữ tại vị trí đầu xe bên phải của xe ôtô hiệu Toyota biển số 51A-960.38.

Công văn số 5019 ngày 06-12-2023 của Công ty cổ phần G thể hiện: Công ty V kiểm tra hệ thống, số serial của tem thu phí tư động không dừng dán trên mảnh nhựa cứng mang ký kiệu ePass A10DE8E9 mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện D thu được tại hiện trường vụ tai nạn giao thông được đăng ký cho xe ôtô mang biển kiểm soát 51A-960.38, chủ hợp đồng mang tên Sĩ P1, căn cước công dân số [...], số điện thoại đăng ký sử dụng dịch vụ 0913.903.297.

Kết luận giám định số 1776 ngày 21-11-2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận đối với vật chứng thu giữ của Sĩ Chấn P: Mẫu chất bột, tinh thể màu trắng bên trong 02 bịch nylon màu trắng được niêm phong (Kí hiệu M1, M4) là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 6,5379 gam. Mẫu chất bột màu cam bên trong 01 bịch nylon màu đỏ có chữ Ferrari được niêm phong (Kí hiệu M2) là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 4,4357 gam. Mẫu chất bột màu trắng bên trong 01 chai nhựa màu trắng có chữ Trapha được niêm phong (Kí hiệu M3) gửi đến giám định không tìm thấy chất ma túy.

Kết luận giám định số 1788 ngày 21-11-2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận đối với vật chứng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Sĩ Chấn P: Mẫu chất bột, tinh thể màu trắng bên trong 04 bịch nylon màu trắng được niêm phong (Kí hiệu M1, M2.1, M3) là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 35,056 gam. Mẫu 02 viên nén màu cam bên trong 01 bịch nylon màu trắng được niêm phong (Kí hiệu M2.2) là chất ma túy, loại MDMA, khối lượng 0,8610 gam.

Kết luận giám định số 1796 ngày 21-11-2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận đối với vật chứng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyên Hồng Q1: Mẫu chất bột màu trắng bên trong 03 bịch nylon màu trắng được niêm phong (Kí hiệu M1, M) gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, tổng khối lượng 33,8267 gam. Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon màu trắng có

quấn dây thun được niêm phong (Kí hiệu M3) gửi giám định không tìm thấy chất ma túy, khối lượng 660,5945 gam.

Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 15-11-2023 và ngày 16-11-2023 của Công an Huyện D thể hiện: Ngô Thị Thanh T1 âm tính với chất ma tuý trong cơ thể; Nguyễn Hồng Q và Sĩ Chấn P dương tính với chất ma tuý trong cơ thể.

* Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của Q đã bồi thường chi phí mai táng 140.000.000 đồng cho gia đình của ông P. Gia đình của ông P không yêu cầu gì thêm.

* Về kê biên tài sản: Qua xác minh thể hiện Q, P, T1 không có sở hữu tài sản riêng nên Cơ quan điều tra không kê biên.

Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSDMC ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Sĩ Chấn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm l, n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Khai báo gian dối” theo quy định tại khoản 1 Điều 382 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Ngô Thị Thanh T1 tội “Khai báo gian dối” theo quy định tại khoản 1 Điều 382 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh C1 giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Sĩ Chấn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Khai báo gian dối”; bị cáo Ngô Thị Thanh T1 phạm tội “Khai báo gian dối”.

+ Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q từ 15 tháng đến 18 (mười tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

+ Căn cứ điểm l khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q từ 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung bị cáo Q phải chịu theo quy định.

+ Căn cứ điểm l, n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sĩ Chấn P từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

+ Căn cứ khoản 1 Điều 382; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sĩ Chấn P từ 03 (ba) đến 06 (sáu) tháng tù về tội “Khai báo gian dối”;

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung bị cáo P phải chịu theo quy định.

+ Căn cứ khoản 1 Điều 382; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Thị Thanh T1 từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Khai báo gian dối”.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thu đã được niêm phong ghi số 1983 bên trong có chứa chất ma túy.

- Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận.

* Lời nói sau cùng của bị cáo:

Bị cáo Q: Bị cáo ăn năn, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về phụng dưỡng cha mẹ và nuôi con nhỏ.

Bị cáo P: Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình, việc làm của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về phụng dưỡng cha mẹ và làm người có ích cho xã hội.

Bị cáo T1: Xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của hành vi, Quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến

hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

[2.1] Khoảng 03 giờ ngày 13-11-2023, tại đoạn đường G thuộc ấp K, xã C, huyện D, do thiếu quan sát, chạy quá tốc độ, giành đường, vượt ẩu nên Nguyễn Hồng Q điều khiển xe ôtô hiệu Toyota biển số 51A-960.38 va chạm vào xe môtô biển số 70G1-253.44 do ông Nguyễn Văn P2 điều khiển trên làn đường xe môtô cùng chiều phía trước đẩy văng xe môtô một đoạn hơn 75m, hậu quả làm ông P2 chết do chấn thương sọ não. Hành vi của Nguyễn Hồng Q là rất nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm khoản 11, 17, 23 Điều 8, Điều 9, Điều 12, Điều 14 Luật Giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng của người khác và xâm phạm an toàn công cộng nên phải chịu trách nhiệm hình sự.

[2.2] Sĩ Chấn P và Ngô Thị Thanh T1 đi cùng trên xe biết rõ sự việc Q điều khiển xe gây tai nạn giao thông nhưng lại bàn bạc thống nhất khai báo gian dối người điều khiển xe là anh Dương Xuân C. Hành vi của Sĩ Chấn P và Ngô Thị Thanh T1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm hoạt động tư pháp và gây cản trở hoạt động điều tra nên phải chịu trách nhiệm hình sự.

[2.3] Quá trình điều tra, xét nghiệm chất ma túy đối với Q, P, T1 và khám xét, Q còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Ketamine với khối lượng 33,8267 gam để sử dụng thì bị phát hiện. P còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Ketamine với khối lượng 46,0296 gam và loại MDMA với khối lượng 0,8610 gam để sử dụng. Hành vi của Nguyễn Hồng Q, Sĩ Chấn P là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy nên phải chịu trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai, biên bản khám xét và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định hành vi của Nguyễn Hồng Q đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Sĩ Chấn P đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm l, n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Khai báo gian dối” theo quy định tại khoản 1 Điều 382 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Ngô Thị Thanh T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Khai báo gian dối” theo quy định tại khoản 1 Điều 382 của Bộ luật Hình sự. Do đó, tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

[3.1] Tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”: Bị cáo Nguyễn Hồng Q là người trực tiếp điều khiển xe ô tô, thiếu chú ý quan sát nên va chạm với xe mô tô do ông Nguyễn Văn P2 điều khiển, sau khi xảy ra tai nạn bị cáo không dừng để cứu giúp bị hại mà tiếp tục điều khiển xe về nhà nhằm trốn tránh trách nhiệm. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tuy nhiên sau khi bị phát hiện và biết bị hại đã chết thì bị cáo đã tác động gia đình thăm hỏi và bồi thường cho gia đình bị hại, đồng thời gia đình bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Do đó, cần xem xét áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ đảm bảo răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[3.2] Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: Khối lượng chất ma túy mà bị cáo Q tàng trữ nhằm mục đích sử dụng là 33,8267 gam, loại Ketamine. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nay tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng, do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi của bị cáo mới đủ tính răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Chất ma túy mà bị cáo P2 tàng trữ để sử dụng là loại Ketamine với khối lượng 46,0296 gam và loại MDMA với khối lượng 0,8610 gam. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự nên cần xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tính răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo.

[3.3] Tội “Khai báo gian dối”: Trong vụ án này mang tính chất đồng phạm giản đơn, do cả 03 bị cáo là bạn bè với nhau, khi xảy ra sự việc, bị cáo Q không phân công, không bàn bạc với bị cáo P2, T1 nhưng khi gọi điện thoại cho anh C để nhờ anh C nhận là người điều khiển xe thì có mặt P2, T1 cùng nghe vì vậy P2, T1 cùng khai báo gian dối khi làm việc với cơ quan điều tra. Các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng và sau đó bị cáo P2, T1 tự nguyện khai nhận đúng sự thật. Do đó, cần xem xét xử phạt ở mức khởi điểm khung hình phạt cũng đủ răn đe các bị cáo. Bị cáo T1 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên căn cứ Điều 36 của Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Q

đã bồi thường thiệt hại xong, gia đình bị cáo có đơn xin bãi nại nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Biện pháp tư pháp:

[5.1] Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Đ – đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền bồi thường 140.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên ghi nhận.

[5.2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy công cụ, phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội, tài sản không còn giá trị sử dụng và các chất ma túy, gồm:

  • 01 (Một) áo thun màu đen bạc ngắn tay, có hoa văn màu trắng;
  • 01 (một) quần Jean màu xanh đen;
  • 01 gấu bông màu nâu trắng;
  • 01 (một) áo thun có cổ ngắn tay màu đen, trên cổ áo có dòng chữ Louis VUITTON pari;
  • 01 (Một) quần Jean màu xanh đen, trên túi sau bên phải có dòng chữ CHRISTIAN DIOR.
  • 01 (Một) mãnh nhựa vỡ màu đỏ kích thước (74 x 20)cm.
  • 01 (Một) mãnh nhựa vỡ màu vàng, kích thước (48 x 31)cm.
  • 01 (Một) mãnh nhựa màu trắng có chữ ePass A10DE8E9, kích thước (14 x 6)cm.
  • 01 (Một) mãnh nhựa vỡ màu vàng, kích thước (55 x 45)cm.
  • 01 (Một) bì thư được niêm phong ghi số 1796/ gói 1, có chữ ký của giám đinh viên Võ Quốc T7, trợ lý giám định Lê Quốc T8 và dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) bịt nylon chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M1) là Ketamine có khối lượng 2,8519 gam (Hai phẩy tám năm một chín gam).
  • 01 (Một) bì thư được niêm phong ghi số 1796/ gói 2, có chữ ký của giám định viên Võ Quốc T7, trợ lý giám định Lê Quốc T8 và dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) bịt nylon chứa chất bột màu trắng (ký hiệu M2) là Ketamine có khối lượng 29,7131 gam (Hai chín phẩy bảy một ba một gam).
  • 01 (Một) bì thư được niêm phong ghi số 1796/ gói 3, có chữ ký của giám đinh viên Võ Quốc T7, trợ lý giám định Lê Quốc T8 và dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) bịt nylon chứa tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M3) có khối lượng 651,3335 gam (Sáu năm một phẩy ba ba ba năm gam) không phải là chất ma túy.
  • 01 (Một) bì thư đã được niêm phong ghi số vụ 1776/gói 1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N, trợ lý giám định Lê Đức T9 và mộc dấu màu đỏ của phòng K Công an tỉnh T, bên trong 01 (Một) bịch nylon màu trắng được hàn kín ba đầu, một đầu khóa bóp có viền màu đỏ (kí hiệu M1) có khối lượng 5,3469 gam (Năm phẩy ba bốn sáu chín gam).
  • 01 (Một) bì thư đã được niêm phong ghi số vụ 1776/gói 3 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N, trợ lý giám định Lê Đức T9 và mộc dấu màu đỏ của phòng K Công an tỉnh T, chất bột màu trắng bên trong 01 (Một) chai nhựa màu trắng, có chữ TRAPHA (kí hiệu M3) có khối lượng 23,5472 gam (Hai ba phẩy năm bốn bảy hai gam).
  • 01 (Một) bì thư đã được niêm phong ghi số vụ 1788/gói 1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M1, trợ lý giám định Nguyễn Thị Thùy D1 và mộc dấu màu đỏ của phòng K Công an tỉnh T, bên trong chứa 01 (Một) bịch nylon màu trắng được hàn kín ba đầu, một đầu khóa bóp có viền màu đỏ (kí hiệu M1) có khối lượng hoàn lại sau giám định 0,1985 gam (Không phẩy một chín tám năm gam).
  • 01 (Một) bì thư đã được niêm phong ghi số vụ 1788/gói 2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M1, trợ lý giám định Nguyễn Thị Thùy D1 và mộc dấu màu đỏ của phòng K Công an tỉnh T, bên trong chứa 01 (Một) bịch nylon màu trắng được hàn kín ba đầu, một đầu khóa bóp có viền màu đỏ (kí hiệu M2.1) có khối lượng 0,2785 gam (Không phẩy hai bảy tám năm gam); Hai viên nén màu cam bên trong 01 (Một) bịch nylon màu trắng được hàn kín ba đầu, một đầu khóa bóp có viền màu đỏ (kí hiệu M2.2) có khối lượng 0,7530 gam (Không phẩy bảy năm ba không gam).
  • 01 (Một) bì thư đã được niêm phong ghi số vụ 1788/gói 3 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M1, trợ lý giám định Nguyễn Thị Thùy D1 và mộc dấu màu đỏ của phòng K Công an tỉnh T, bên trong chứa chất bột màu trắng bên trong 01 (Một) bịch nylon màu trắng được hàn kín ba đầu, một đầu khóa bóp có viền màu đỏ (kí hiệu M3.1) có khối lượng 26,7216 gam (Hai mươi sáu phẩy bảy hai một sáu gam); 01 (Một) bịch nylon màu trắng được hàn kín ba đầu, một đầu khóa bóp có viền màu đỏ (kí hiệu M3.2) có khối lượng hoàn lại sau giám định 7,3617 gam (Bảy phẩy ba sáu một bảy gam.
  • 01 (Một) cái bóp cầm tay màu đen nâu, có in số 212.
  • 01 (một) thẻ nhựa màu có chữ CHANEL.
  • 01 (một) đĩa sứ màu trắng.
  • 03 (ba) đoạn ống hút.

* Trả cho bị cáo Sĩ Chấn P: 01 (Một) điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím (đã qua sử dụng), không kiểm tra sim, số IMEI: 359056818893868, số IMEI 2: 359056819312371.

* Trả cho bị cáo Q: 01 (Một) điện thoại di động Iphone 14 Promax màu đen (đã qua sử dụng), không kiểm tra sim, số IMEI: 355597829470208, số IMEI 2: 355597829906441; 01 (Một) giấy phép lái xe hạng B2 tên Nguyễn Hồng Q.

(Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09-4-2024)

5. Án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Hồng Q, Sĩ Chấn P, Ngô Thị Thanh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7. Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại trụ sở Tòa án, Ủy ban nhân dân xã (phường), nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN;
  • - VKSND tỉnh TN;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND H.DMC;
  • - CQĐT CA H.DMC;
  • - Nhà tạm giữ CA H.DMC;
  • - Chi cục THADS H.DMC;
  • - PV06 – Công an tỉnh TN;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH về vụ án hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự Sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Căn cứ vào điểm l khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Q 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung bị cáo Nguyễn Hồng Q phải chịu là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17-11-2023. 2. Căn cứ vào điểm l, n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Sĩ Chấn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Sĩ Chấn P 05 (năm) năm tù. Căn cứ vào khoản 1 Điều 382; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Sĩ Chấn P phạm tội “Khai báo gian dối”. Xử phạt bị cáo Sĩ Chấn P 03 (ba) tháng tù. Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung bị cáo Sĩ Chấn P phải chịu là 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15-11-2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Q, P. 3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 382; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Thanh T1 phạm tội “Khai báo gian dối”. Xử phạt bị cáo Ngô Thị Thanh T1 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger