|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 35/2024/HSST Ngày: 22/07/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Anh Xuân.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Thảo.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung.
- - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 07 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Trương Công L - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1987; Nơi cư trú: thôn X, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Công L1 (đã chết) và con bà: Quách Thị Đ - sinh năm 1962; Vợ: Nguyễn Thị Kim A - sinh năm 1992; con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 29/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/04/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Văn H – Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 20 tháng 11 năm 1975; Nơi cư trú: xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Sỹ Q - sinh năm 1954 và con bà: Hoàng Thị N – sinh năm 1953; Vợ: Hoàng Thị T – Sinh năm 1982; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/4/2024 đến ngày 12/4/2024 thì được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Văn T1 - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 22 tháng 02 năm 1995; Nơi cư trú: xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Khắc T2 - sinh năm 1969 và con bà: Vi Thị H1 – sinh năm 1969; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/4/2024 đến ngày 19/4/2024 thì được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Ngô Trọng H2 - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 20 tháng 11 năm 1996; Nơi cư trú: xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Xuân M - sinh năm 1974 và con bà: Nguyễn Thị H3 – sinh năm 1972; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/5/2024 đến ngày 18/5/2024 thì được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Lương Hồng T3 - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 27 tháng 03 năm 1989; Nơi cư trú: thôn H, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Văn Đ1 - sinh năm 1962 và con bà: Lương Thị V - sinh năm 1964; Vợ: Lương Thị D – Sinh năm 1992; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/4/2024 đến ngày 28/4/2024 thì được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Đặng Quang T4 - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 03 tháng 04 năm 1994; Nơi cư trú: xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Văn T5 - sinh năm 1970 và con bà: Châu Thị A1 – sinh năm 1972; Vợ: Hồ Thị T6 – sinh năm 1999; con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
- Anh Vi Quang N1 - sinh năm 1983. Vắng mặt.
- Trú tại: xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Anh Vy Phúc L2 - sinh năm 1979. Vắng mặt.
- Trú tại: xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Anh Trương Hữu H4 - sinh năm 1984. Vắng mặt.
- Trú tại: thôn V, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 01/04/2024, Trương Công L đi đến lán trại nuôi bò của gia đình anh Nguyễn Văn T1, ở xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An để uống rượu. Sau khi uống rượu xong thì Trương Công L hỏi Nguyễn Văn T1 “ở xung quanh đây có ai đánh bạc thì gọi đến chơi một lúc”. Nguyễn Văn T1 dùng số điện thoại của mình 0967.985.xxx gọi điện thoại đến số 0377.819.xxx và số 0582.137.999 của Nguyễn Văn H và Đặng Quang T4 rủ đến lán trại nuôi bò của gia đình Nguyễn Văn T1 để đánh bạc thì Nguyễn Văn H và Đặng Quang T4 đồng ý và đi đến lán trại nuôi bò của Nguyễn Văn T1. Nguyễn Văn T1 chuẩn bị một bộ bát đĩa sứ, Đặng Quang T4 cắt vỏ bao thuốc lá Thăng L3 làm thành 04 con xúc xắc hình tròn để mọi người đánh bạc. Nguyễn Văn H, Đặng Quang T4 và Trương Công L bắt đầu đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa, mọi người thay nhau cầm cái. Mỗi ván những người tham gia đánh bạc đặt cửa từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Khi bắt đầu đánh bạc, Nguyễn Văn H sử dụng 2.000.000 đồng tiền mặt để đánh bạc, Đặng Quang T4 sử dụng 800.000 đồng tiền mặt đánh bạc, Trương Công L sử dụng 2.000.000 đồng tiền mặt để đánh bạc. Khi Trương Công L, Nguyễn Văn H và Đặng Quang T4 đánh bạc thì Nguyễn Văn T1 đứng ngoài xem. Đánh bạc một lúc, Nguyễn Văn H bị thua hết tiền nên chuyển tiền trong tài khoản của mình sang cho số tài khoản của Trương Công L 2.000.000 đồng để lấy tiền mặt đánh bạc. Nguyễn Văn H đánh bạc tiếp tục bị thua nên chuyển khoản cho Trương Công L thêm 10.000.000 đồng để trả nợ thua bạc cho L và lấy tiền mặt từ L để đánh bạc tiếp. Đánh bạc thêm khoảng 10 phút thì Nguyễn Văn H thua hết tiền nên chuyển khoản sang cho Trương Công L lấy thêm 1.000.000 đồng tiền mặt để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Đặng Quang T4 bị thua nên T4 có chuyển tiền từ tài khoản số 1998626888888 của Thường mở tại ngân hàng M1 đến tài khoản 00003388328 của Trương Công L số tiền 4.000.000 đồng để trả nợ thua bạc cho L và lấy tiền mặt từ L để đánh bạc tiếp. Sau đó, Đặng Quang T4 đánh bạc tiếp và tiếp tục bị thua nên nhờ Nguyễn Văn H chuyển tiền từ tài khoản của H đến tài khoản Trương Công L 5.000.000 đồng cho T4 vay để Thường trả nợ thua bạc cho L và lấy tiền mặt từ L đánh bạc tiếp. Đánh bạc được khoảng 30 phút thì Nguyễn Văn H nói Đặng Quang T4 nghỉ chơi để H và Trương Công L đánh bạc với nhau. Thời điểm này, Đặng Quang T4 bị thua bạc, còn lại 3.800.000 đồng tiền mặt. Nguyễn Văn H và Trương Công L đánh bạc thêm khoảng 15 phút thì Nguyễn Văn H thua hết tiền nên mọi người nghỉ đi về.
Sáng ngày 02 tháng 04 năm 2024, Trương Công L và Lương Hồng T3 đi sang xã N, huyện N tìm mua keo. Khi đi Lương H cầm theo một chiếc bát sứ mới mua trên mạng được giới thiệu là có thể soi nhìn được con xúc xắc. Khi sang huyện N, Lương Hồng T3 có liên lạc với Nguyễn Văn T1 thì T1 rủ Lương Hồng T3 và Trương Công L đến nhà Vi Quang N1 để uống rượu. Còn Ngô Trọng H2 đến nhà anh Vi Quang N1 xem trâu để mua thì Nguyễn Văn T1 mời Ngô Trọng H2 cùng tham gia uống rượu. Khi ở nhà anh Vi Quang N1, Lương Hồng T3 có lấy bát sứ gắn chíp để ở bàn uống nước nhà anh N1. Đến khoảng 12 giờ, mọi người ăn uống xong, sau đó Vi Quang N1 dọn dẹp, đưa bát đĩa ra sân giếng rửa. Nguyễn Văn T1 hỏi mọi người “có đánh bạc một tý cho vui không” thì Ngô T7 H2 rủ mọi người đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa. Ngô Trọng H2 lấy kéo cắt thành 04 con xúc xắc từ vỏ bao bánh quy nhưng không tròn nên Lương Hồng T3 lấy cắt lại cho tròn. Nguyễn Văn T1 lấy bát sứ ở bàn và một chiếc đĩa sứ xuống làm công cụ đánh bạc. Trương Công L, Nguyễn Văn T1, Lương Hồng T3, Ngô Trọng H2 ngồi xuống chiếu nhựa trải trong nhà anh Vi Quang N1 đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa, mỗi ván những người tham gia đánh bạc đặt cửa từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Khi bắt đầu đánh bạc, Trương Công L sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc; Ngô Trọng H2 sử dụng 800.000 đồng để đánh bạc; Lương Hồng T3 sử dụng 3.500.000 đồng để đánh bạc; Nguyễn Văn T1 sử dụng 900.000 đồng để đánh bạc. Đánh được khoảng 05 đến 10 phút, Ngô Trọng H2 nói Nguyễn Văn T1 lấy bát sứ khác thay chiếc bát sứ do Lương Hồng T3 đưa đến. Một lúc sau, Ngô Trọng H2 gọi điện rủ Nguyễn Văn H đi đến nhà anh Vi Quang N1 để đánh bạc. Khi đến, Nguyễn Văn H không cầm tiền mặt đi mà đánh nợ, sau đó Nguyễn Văn H chuyển khoản từ số tài khoản 3620205101805 của H mở tại ngân hàng N2 chi nhánh huyện N đến số tài khoản 00003388328 mở tại ngân hàng T8 của Trương Công L 14.000.000 đồng để H lấy tiền mặt đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Ngô Trọng H2 bị thua nên có chuyển khoản từ số tài khoản 5201119968686 mở tại ngân hàng M1 của H2 đến số tài khoản của Trương Công L 6.000.000 đồng để trả nợ thua bạc cho L và lấy tiền mặt từ L đánh bạc tiếp. Đánh bạc một lúc, Ngô Trọng H2 thua hết tiền nên tiếp tục chuyển khoản cho Trương Công L số tiền 10.000.000 đồng để trả nợ thua bạc cho L và lấy tiền đánh bạc tiền mặt từ L đánh bạc tiếp. Do không đủ tiền mặt, nên Trương Công L vay của Lương Hồng T3 3.000.000 đồng tiền mặt để đưa cho Ngô Trọng H2. Sau đó, Trương Công L thắng bạc nên đi về trước, Nguyễn Văn T1 bị thua hết tiền nên cũng không chơi nữa. Còn lại Ngô Trọng H2, Nguyễn Văn H và Lương Hồng T3 tiếp tục đánh bạc với nhau. Đến khoảng 13 giờ, khi đang đánh bạc thì Ngô Trọng H2 nghi bát đĩa có gắn chíp nên đưa bát đĩa sứ đang sử dụng đánh bạc và đưa bát sứ do Lương Hồng T3 mua trên mạng đưa ra sân đập bể thì phát hiện trong bát sứ do Lương Hồng T3 đưa đến có gắn chíp. Lúc này, Lương Hồng T3 sợ nên bỏ trốn về. Khi về Lương Hồng T3 còn 2.700.000 đồng, Nguyễn Văn H còn 2.700.000 đồng, Ngô Trọng H2 bị thua hết tiền. Còn Trương Công L thắng bạc.
Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai nhận số tiền để đánh bạc như sau:
Ngày 01/04/2024, Nguyễn Văn H sử dụng 15.000.000 đồng tiền mặt để đánh bạc nhưng thua hết. Đặng Quang T4 sử dụng 9.800.000 đồng tiền mặt để đánh bạc đến khi nghỉ còn 3.800.000 đồng. Trương Công L sử dụng 2.000.000 đồng tiền mặt đánh bạc và đánh thắng bạc. Tổng số tiền Nguyễn Văn H, Đặng Quang T4, Trương Công L sử dụng để đánh bạc là 26.800.000₫ (Hai mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng).
Ngày 02/04/2024, Nguyễn Văn H sử dụng 14.000.000 đồng để đánh bạc và bị thua là 11.300.000 đồng; Nguyễn Văn T1 sử dụng 900.000 đồng để đánh bạc nhưng bị thua hết, Ngô Trọng H2 sử dụng 16.000.000 đồng để đánh bạc nhưng bị thua hết; L4 Hồng Tâm sử dụng 3.500.000 đồng để đánh bạc bị thua 800.000 đồng; Trương Công L sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc và thắng bạc số tiền 29.800.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo Nguyễn Văn H, Lương Hồng T3, Ngô Trọng H2, Nguyễn Văn T1, Trương Công L sử dụng đánh bạc là 36.200.000₫ (Ba mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng).
Bản Cáo trạng số 37/CT-VKSNgĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn truy tố các bị cáo Trương Công L, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Ngô Trọng H2, Lương Hồng T3 và Đặng Quang T4 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận. Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 321, điểm s khoản 1, 2 điều 51, điểm g khoản 1 điều 52, điều 58 và 38 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Trương Công L từ 06 đến 09 tháng tù; áp dụng khoản 1 điều 321, điểm s khoản 1, 2 điều 51, điểm g khoản 1 điều 52, 58 và 36 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo từ 17 đến 21 tháng tù cải tạo không giam giữ; áp dụng khoản 1 điều 321, điểm s, i khoản 1, 2 điều 51, 58 và 36 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Ngô Trọng H2 từ 13 đến 16 tháng cải tạo không giam giữ, xử phạt bị cáo Đặng Quang T4, Lương Hồng T3 mỗi bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Ngô Trọng H2, Đặng Quang T4, Lương Hồng T3 mỗi bị cáo từ 10 đến 15% thu nhập hàng tháng.
- Về vật chứng: Đề nghị tịch thu bán hóa giá sung công quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5, vỏ điện thoại màu trắng, số Imei 1: 865413048646938, số I: 865413048646920, bên trong có gắn 02 thẻ sim, sim thứ nhất sim V1 có số thuê bao 0868893789. Sim thứ hai sim vinaphone số thuê bao 0941.137.xxx. Điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Trương Công L.
Tịch thu tiêu huỷ 04 mảnh vỡ từ một chiếc bát sứ màu trắng, ở bên trong đế bát sứ có gắn một sợi dây diện đồng và các mảng mạch điện màu xanh do Nguyễn Văn H tự nguyện giao nộp.
Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc và thu lợi bất chính.
- Về án phí. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận đúng như nội dung bản cáo trạng quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với vật chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đã xác định: Vào tối ngày 01/04/2024, tại lán trại của bị cáo Nguyễn Văn T1, ở xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Trương Công L hỏi Nguyễn Văn T1 “ở xung quanh đây có ai đánh bạc thì gọi đến chơi một lúc”. Nguyễn Văn T1 đồng ý và dùng số điện thoại của mình 0967.985.xxx gọi điện thoại đến số 0377.819.xxx và số 0582.137.999 của Nguyễn Văn H và Đặng Quang T4 rủ đến lán trại nuôi bò của gia đình Nguyễn Văn T1 để đánh bạc thì Nguyễn Văn H và Đặng Quang T4 đồng ý và đi đến lán trại nuôi bò của Nguyễn Văn T1. Nguyễn Văn T1 chuẩn bị một bộ bát đĩa sứ, Đặng Quang T4 cắt vỏ bao thuốc lá Thăng L3 làm thành 04 con xúc xắc hình tròn để mọi người đánh bạc. Nguyễn Văn H, Đặng Quang T4 và Trương Công L bắt đầu đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa, mọi người thay nhau cầm cái. Mỗi ván những người tham gia đánh bạc đặt cửa từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Khi bắt đầu đánh bạc, Nguyễn Văn H sử dụng 2.000.000 đồng tiền mặt để đánh bạc, Đặng Quang T4 sử dụng 800.000 đồng tiền mặt đánh bạc, Trương Công L sử dụng 2.000.000 đồng tiền mặt để đánh bạc, Nguyễn Văn T1 đứng ngoài xem. Đánh bạc một lúc, Nguyễn Văn H bị thua hết tiền nên chuyển tiền trong tài khoản của mình sang cho số tài khoản của Trương Công L 2.000.000 đồng để lấy tiền mặt đánh bạc. Nguyễn Văn H đánh bạc tiếp tục bị thua nên chuyển khoản cho Trương Công L thêm 10.000.000 đồng để trả nợ thua bạc cho L và lấy tiền mặt từ L để đánh bạc tiếp. Đánh bạc thêm khoảng 10 phút thì Nguyễn Văn H thua hết tiền nên chuyển khoản sang cho Trương Công L lấy thêm 1.000.000 đồng tiền mặt để đánh bạc. Đặng Quang T4 đánh bị thua nên T4 chuyển khoản cho Trương Công L số tiền 4.000.000 đồng để trả nợ thua bạc cho L và lấy tiền mặt từ L để đánh bạc tiếp. Sau đó tiếp tục thua, Đặng Quang T4 nhờ Nguyễn Văn H chuyển khoản cho Trương Công L 5.000.000 đồng cho T4 vay để Thường trả nợ thua bạc cho L và lấy tiền mặt từ L đánh bạc tiếp. Đánh bạc được khoảng 30 phút thì Nguyễn Văn H nói Đặng Quang T4 nghỉ chơi để H và Trương Công L đánh bạc với nhau. Khi nghỉ, Đặng Quang T4 còn lại 3.800.000 đồng tiền mặt. Nguyễn Văn H và Trương Công L đánh bạc thêm khoảng 15 phút thì Nguyễn Văn H thua hết tiền nên mọi người nghỉ đi về.
Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai nhận số tiền để đánh bạc như sau: Ngày 01/04/2024, Nguyễn Văn H sử dụng 15.000.000 đồng để đánh bạc nhưng thua hết. Đặng Quang T4 lúc đầu sử dụng 9.800.000 đồng để đánh bạc, khi nghỉ còn 3.800.000 đồng. Trương Công L sử dụng 2.000.000 đồng đánh bạc, thắng 21.000.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Văn H, Đặng Quang T4, Trương Công L sử dụng để đánh bạc là 26.800.000₫ (Hai mươi sáu triệu tám trăm nghìn đồng), Nguyễn Văn T1 tham gia với vai trò giúp sức cho các bị cáo đánh bạc.
Đến khoảng 12 giờ, ngày 02/4/2024 sau khi uống rượu xong tại nhà Vi Quang N1 ở xóm Đ, xã N, Nguyễn Văn T1 hỏi mọi người “có đánh bạc một tý cho vui không” thì Ngô T7 H2 rủ mọi người đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa. Ngô Trọng H2 lấy kéo cắt thành 04 con xúc xắc từ vỏ bao bánh quy nhưng Lương Hồng T3 thấy không tròn và cắt lại cho tròn. Nguyễn Văn T1 lấy bát sứ ở bàn và một chiếc đĩa sứ xuống làm công cụ đánh bạc. Trương Công L, Nguyễn Văn T1, Lương Hồng T3, Ngô Trọng H2 ngồi xuống chiếu nhựa trải trong nhà anh Vi Quang N1 đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa, mỗi ván những người tham gia đánh bạc đặt cửa từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Khi bắt đầu đánh bạc, Trương Công L sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc; Ngô Trọng H2 sử dụng 800.000 đồng để đánh bạc; Lương Hồng T3 sử dụng 3.500.000 đồng để đánh bạc; Nguyễn Văn T1 sử dụng 900.000 đồng để đánh bạc. Đánh được khoảng 05 đến 10 phút, Ngô Trọng H2 nói Nguyễn Văn T1 lấy bát sứ khác thay chiếc bát sứ do Lương Hồng T3 đưa đến. Một lúc sau, Ngô Trọng H2 gọi điện rủ Nguyễn Văn H đi đến nhà anh Vi Quang N1 để đánh bạc. Khi đến, Nguyễn Văn H không cầm tiền mặt đi mà đánh nợ, sau đó Nguyễn Văn H chuyển khoản cho Trương Công L 14.000.000 đồng để H lấy tiền mặt đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Ngô Trọng H2 bị thua nên chuyển khoản cho Trương Công L 6.000.000 đồng để trả nợ thua bạc cho L và lấy tiền mặt đánh bạc tiếp. Đánh bạc một lúc, Ngô Trọng H2 thua hết tiền nên tiếp tục chuyển khoản cho Trương Công L số tiền 10.000.000 đồng để trả nợ thua bạc cho L và lấy tiền mặt đánh bạc tiếp. Không đủ tiền mặt, Trương Công L vay của Lương Hồng T3 3.000.000 đồng tiền mặt để đưa cho H2. Sau đó, Trương Công L thắng bạc nên đi về trước, Nguyễn Văn T1 bị thua hết tiền, ngồi xem. Còn lại Ngô Trọng H2, Nguyễn Văn H và Lương Hồng T3 tiếp tục đánh bạc với nhau. Đến khoảng 13 giờ, khi đang đánh bạc thì Ngô Trọng H2 nghi bát đĩa có gắn chíp nên đưa bát đĩa sứ đang sử dụng đánh bạc và đưa bát sứ do Lương Hồng T3 mua trên mạng đưa ra sân đập bể thì phát hiện trong bát sứ do Lương Hồng T3 đưa đến có gắn chíp. Lúc này, Lương Hồng T3 sợ nên bỏ trốn về. Khi về Lương Hồng T3 còn 2.700.000 đồng, Nguyễn Văn H còn 2.700.000 đồng, Ngô Trọng H2 bị thua hết tiền.
Ngày 02/04/2024, Nguyễn Văn H sử dụng 14.000.000 đồng để đánh bạc và bị thua là 11.300.000 đồng; Nguyễn Văn T1 sử dụng 900.000 đồng để đánh bạc nhưng bị thua hết, Ngô Trọng H2 sử dụng 16.000.000 đồng để đánh bạc nhưng bị thua hết; L4 Hồng Tâm sử dụng 3.500.000 đồng để đánh bạc bị thua 800.000 đồng; Trương Công L sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc và thắng bạc số tiền 29.800.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo Nguyễn Văn H, Lương Hồng T3, Ngô Trọng H2, Nguyễn Văn T1, Trương Công L sử dụng đánh bạc là 36.200.000₫ (Ba mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng).
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Trương Công L, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Ngô Trọng H2, Đặng Quang T4 và Lương Hồng T3 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật. Đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và trái pháp luật đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Do vậy, cần xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội của các bị cáo để phòng ngừa chung.
[4] Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đánh bạc có đồng phạm giản đơn, bị cáo Trương Công L có nhân thân xấu và sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án, sau đó đến bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1 tham gia tích cực trong vụ án và chịu trách nhiệm cuối cùng trong vụ án là bị cáo Ngô Trọng H2, Lương Hồng T3, Đặng Quang T4.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trương Công L, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1 có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Lương Hồng T3, Ngô Trọng H2, Đặng Quang T4 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo L có công đóng góp quỹ vì người nghèo và quỹ phòng chống dịch bệnh tại địa phương, bị cáo H có thành tích tiêu biểu trong các cuộc vận động từ thiện, nhân đạo, có bố là người có công với cách mạng tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ được hưởng trợ cấp một lần; Bị cáo T1 có ông nội, bà nội là người có công với cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến; các bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính và tiền sử dụng để đánh bạc sau khi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cũng được xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[6] Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo Trương Công L là người đã từng bị xét xử về tội đánh bạc nhưng bị cáo không lấy đó để làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Ngô Trọng H2, Đặng Quang T4, Lương Hồng T3 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên chỉ cần xử phạt các bị cáo ở mức cải tạo không giam giữ giao về cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục cũng đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[7] Về khấu trừ thu nhập: Cần khấu trừ thu nhập các bị cáoNguyễn Văn Hạ, Nguyễn Văn T1, Ngô Trọng H2, Đặng Quang T4, Lương Hồng T3 mỗi bị cáo 500.000 đồng/tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
[8] Về xử lý vật chứng: Xét thấy cần tịch thu bán hóa giá sung công quỹ Nhà nước đối với: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5, vỏ điện thoại màu trắng, số Imei 1: 865413048646938, số I: 865413048646920, bên trong có gắn 02 thẻ sim, sim thứ nhất sim V1 có số thuê bao 0868893789. Sim thứ hai làm sim vinaphone số thuê bao 0941.137.xxx. Điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Trương Công L.
Tịch thu tiêu huỷ 04 mảnh vỡ từ một chiếc bát sứ màu trắng, ở bên trong đế bát sứ có gắn một sợi dây diện đồng và các mảng mạch điện màu xanh do Nguyễn Văn H tự nguyện giao nộp.
Đối với số tiền thu lợi bất chính và sử dụng đánh bạc của các bị cáo thì các bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Sam Sung A32 số thuê bao 0967.985.202 của Nguyễn Văn T1; Chiếc điện thoại nhãn hiệu Sam Sung A12 số thuê bao 0377.819.477 của anh Nguyễn Văn H; Chiếc điện thoại Iphone 6 Plus số thuê bao 0347.808.208 của Ngô Trọng H2; Chiếc điện thoại Iphone X số thuê bao 05821387xxx của Đặng Quang T4. Đây là phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc rủ nhau đánh bạc và thực hiện việc chuyển khoản tiền đánh bạc cho Trương Công L. Quá trình điều tra, các bị cáo khai báo đã bị mất, không xác định được địa điểm đánh mất cụ thể, vì vậy cơ quan CSĐT không thu giữ được những vật chứng trên;
[9]Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 điều 52, 58 và điều 38 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trương Công L phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Trương Công L 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị các bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 05/4/2024.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 điều 52, 58 và điều 36 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ thời gian tạm giữ 3 ngày bằng 9 ngày cải tạo không giam giữ. Còn phải chấp hành 17 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập bị cáo 500.000 đồng/tháng để sung công quỹ Nhà nước trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ thời gian tạm giữ 3 ngày bằng 9 ngày cải tạo không giam giữ. Còn phải chấp hành 17 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập bị cáo 500.000 đồng/tháng để sung công quỹ Nhà nước trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51, 58 và điều 36 - Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Ngô Trọng H2, Đặng Quang T4, Lương Hồng T3 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Trọng H2 16 (Mười sáu) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ thời gian tạm giữ 3 ngày bằng 9 ngày cải tạo không giam giữ. Còn phải chấp hành 15 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập bị cáo 500.000 đồng/tháng để sung công quỹ Nhà nước trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Quang T4 14 (Mười bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập bị cáo 500.000 đồng/tháng để sung công quỹ Nhà nước trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Xử phạt: Bị cáo Lương Hồng T3 14 (Mười bốn) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ thời gian tạm giữ 6 ngày bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ. Còn phải chấp hành 13 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập bị cáo 500.000 đồng/tháng để sung công quỹ Nhà nước trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an huyện N và cơ quan thi hành án hình sự công an huyện N, tỉnh Thanh Hoá (đối với bị cáo T3) nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Đặng Quang T4 về cho UBND xã N, huyện N; Bị cáo Ngô Trọng H2 về cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Bị cáo Lương Hồng T3 về cho UBND xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tich thu bán hóa giá sung công quỹ Nhà nước đối với: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5, vỏ điện thoại màu trắng, số Imei 1: 865413048646938, số I: 865413048646920, bên trong có gắn 02 thẻ sim, sim thứ nhất sim V1 có số thuê bao 0868893789. Sim thứ hai làm sim vinaphone số thuê bao 0941.137.xxx. Điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Trương Công L.
Tịch thu tiêu huỷ 04 mảnh vỡ từ một chiếc bát sứ màu trắng, ở bên trong đế bát sứ có gắn một sợi dây diện đồng và các mảng mạch điện màu xanh do Nguyễn Văn H tự nguyện giao nộp.
Đối với số tiền thu lợi bất chính và sử dụng đánh bạc của các bị cáo thì các bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Sam Sung A32 số thuê bao 0967.985.202 của Nguyễn Văn T1; Chiếc điện thoại nhãn hiệu Sam Sung A12 số thuê bao 0377.819.477 của anh Nguyễn Văn H; Chiếc điện thoại Iphone 6 Plus số thuê bao 0347.808.208 của Ngô Trọng H2; Chiếc điện thoại Iphone X số thuê bao 05821387xxx của Đặng Quang T4. Đây là phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc rủ nhau đánh bạc và thực hiện việc chuyển khoản tiền đánh bạc cho Trương Công L. Quá trình điều tra, các bị cáo khai báo đã bị mất, không xác định được địa điểm đánh mất cụ thể, vì vậy cơ quan CSĐT không thu giữ được những vật chứng trên;
* Về án phí: Áp dụng điều 136 - Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trương Công L, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Ngô Trọng H2, Đặng Quang T4 và Lương Hồng T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Anh Xuân |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Tuyết Nhung Nguyễn Bá Thảo |
Lương Anh Xuân |
Bản án số 35/2024/HSST ngày 22/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 35/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tội đánh bạc
