Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HNGĐ - ST

Ngày 22 - 5- 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thế Hải

Bà Nguyễn Thị Sen

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Viết Chiến - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lâm Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 236/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/4/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Ong Thị M, sinh năm 1987
  2. Nơi thường trú: TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi ở hiện nay: thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1984
  4. Nơi thường trú: TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt chị M; vắng mặt anh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Ong Thị M trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H vào ngày 07/5/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không thể hòa hợp được và không có hạnh phúc, từ tháng 6 năm 2023 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, chị về nhà mẹ đẻ ở tỉnh B sinh sống. Nay chị xác định vợ chồng sống ly thân thời gian dài, tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh C.

Về con chung: Chị và anh C có 02 con chung là Nguyễn Minh H, sinh ngày 25/01/2011 và Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 11/6/2019, kể từ khi vợ chồng sống ly thân cháu H ở với anh C, cháu B ở với chị tại quê ngoại ở tỉnh B. Tại đơn khởi kiện chị M yêu cầu khi ly hôn chị nuôi cả hai con, anh C cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; tại bản tự khai và tại phiên tòa chị M đề nghị khi ly hôn chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu B; anh C trực tiếp nuôi dưỡng cháu H; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn C: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh C, anh C trình bày anh biết đọc nhưng không biết viết nên đề nghị Tòa án ghi lời khai của anh. Tại biên bản ghi lời khai ngày 18/12/2023 anh C trình bày: Anh và chị M chung sống với nhau từ năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, nhưng đến ngày 07/5/2013 anh và chị M mới đến UBND xã H đăng ký kết hôn, sau khi kết hôn do anh hay đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về nhà, thời gian gần đây cô M sống không chung thủy nên đã bỏ gia đình về quê ngoại ở xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang sinh sống kể từ ngày 02/9/2023 vợ chồng sống ly thân từ đó, nay cô M có đơn ly hôn, anh đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Minh H, sinh ngày 25/01/2011 và Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 11/6/2019, hiện nay cháu H ở với anh, cháu B ở với mẹ; khi ly hôn nguyện vọng của anh được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, chị M nuôi dưỡng cháu B, anh không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chấp hành không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khỏi kiện của chị Ong Thị M. Về hôn nhân giải quyết cho chị M được ly hôn anh C; Về con chung: giao cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 25/01/2011 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 11/6/2019 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chị M và anh C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét; Về tài sản chung: chị M và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét; Về án phí: chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị M yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa chị và anh C; anh C cư trú tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; chị M đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh C theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh C: Quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh C trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tin tưởng nghi ngờ tình cảm dành cho nhau, nên đã sống ly thân mỗi người mỗi nơi, vợ chồng không gần nhau nên tình cảm phai nhạt. Chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh C, anh C cũng đồng ý ly hôn chị M.

Tòa án tiến hành xác minh về mâu thuẫn vợ chồng giữa anh C và chị M, xác định trong cuộc sống anh C và chị M có xảy ra mâu thuẫn, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân.

Vì vậy, có căn cứ để xác định, hôn nhân giữa chị M và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị M và anh C có 02 con chung là Nguyễn Minh H, sinh ngày 25/01/2011 và Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 11/6/2019, kể từ khi vợ chồng sống ly thân cháu H ở với anh C, cháu Bích ở với chị M. Khi ly hôn chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu B, anh C trực tiếp nuôi dưỡng cháu H. Anh C có nguyện vọng khi ly hôn anh nuôi cháu H, chị Minh nuôi cháu B.

HĐXX xét thấy chị M và anh C đều có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của chị M và anh C, giao cháu Nguyễn Minh H cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Ngọc B cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M và anh C không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị M và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị M khởi kiện vụ án ly hôn, không thuộc trường hợp được miễn án phí, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  2. Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

    Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ong Thị M:
  4. - Về hôn nhân: Chị Ong Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn C.

    - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 25/01/2011 cho anh Nguyễn Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 11/6/2019 cho chị Ong Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Chị M và anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

  5. Về án phí: Chị Ong Thị M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0006884 ngày 29/11/2023.
  6. Quyền kháng cáo: Chị M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - UBND phường H;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HNGĐ - ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 35/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Ong Thị M ly hôn anh Nguyễn Văn C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger