|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HS-ST. Ngày: 22/5/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đức Dũng.
- Bà Lại Thị Thúy Hằng.
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Phạm Thọ P, sinh năm: 1998, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thọ T (đã chết) và bà Vũ Thị T1, sinh năm: 1966; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 05/12/2023 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 năm tù về tội “Giết người” (bản án số 194/2023/HSST).
Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam X.
-
Hồ Trung Quốc, sinh năm: 1999, tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Số A, đường N, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Xuân B, sinh năm: 1976 và bà Đặng Thị H, sinh năm: 1975; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 05/12/2023 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 năm tù về tội “Giết người” (bản án số 194/2023/HSST).
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam X.
-
Lê Minh P1, sinh năm: 1995, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh D, sinh năm: 1948 và bà Nông Thị Kim O, sinh năm: 1958; vợ: Nguyễn Thị Mỹ D1 và 01 con sinh năm: 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/10/2023 cho đến nay.
-
Nguyễn Thị Mỹ D1, sinh năm: 2000, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1957 và bà Lê Thị H1, sinh năm: 1961; chồng: Lê Minh P1 và 01 con sinh năm: 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/10/2023 cho đến nay.
-
Nguyễn Hữu L, sinh năm: 1992, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu B1, sinh năm: 1967 và bà Trương Thị Kim O1, sinh năm: 1963; vợ: Phạm Nguyễn Thị Thùy T2, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/10/2023 cho đến nay.
-
Lê Hoàng Bảo N, sinh năm: 2001, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức Hữu H2 và bà Đặng Thị Thu P2; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/10/2023 cho đến nay.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người làm chứng:
- Anh Lê Minh T3, sinh năm: 1999. (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Vũ Minh Anh H3, sinh năm: 1999. (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Nguyễn Thế B2, sinh năm: 2003. (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp I, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Dương Đức T4, sinh năm: 1979. (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp H, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Chị Phạm Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm: 1991. (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Trần Phước H4, sinh năm: 1998. (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Anh Nông Công H5, sinh năm: 1991. (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Chị Nguyễn Thị Trúc L1, sinh năm: 2002. (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Nguyễn Tấn T5, sinh năm: 1967. (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ, ngày 01/3/2022, Phạm Thọ P rủ Hồ Trung Quốc và một số người bạn gồm: Lê Minh T3, Vũ Minh Anh H3, Nguyễn Thế B2 và Dương Đức T4 đến quán Karaoke “Phương L2” tại ấp A, xã S, huyện C do bà Nguyễn Thị D2 làm chủ để hát Karaoke.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, nhóm của Lê Minh P1 gồm: Nguyễn Thị Mỹ D1, Nguyễn Hữu L, Lê Hoàng Bảo N, Phạm Nguyễn Thùy T2 và Trần Phước H4 cũng đến quán Karaoke “Phương L2” để hỏi thuê phòng hát.
Lúc này, P từ phòng hát số 1đi ra ngoài thì gặp P1, cả hai xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xô xát, D1 thấy vậy, đến can ngăn thì giữa P và D1 xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, P đòi đánh D1 thì P1 lao vào đòi đánh lại P, P quay sang dùng tay đấm vào mặt P1 thì được Lê Minh T3, Dương Đức T4 và ông Nông Công H5 (là người nhà chủ quán) can ngăn nên P bỏ đi vào phòng hát lấy một chiếc gắp đá bằng kim loại đi ra đánh vào mí mắt bên phải người P1 nên P1 dùng tay đánh và đấm vào mặt P, N thấy vậy nên cũng tới dùng tay đánh vào mặt P giúp P1. Thấy P bị đánh nên Q lao vào đánh P1 giúp P, thấy vậy, L và N vào can ngăn thì Q lao vào đánh L, bực tức vì bị Q đánh nên L quay qua đánh Q thì Nguyễn Thị Thùy T2 (vợ L) vào can ngăn L, Trần Phước H4 vào can ngăn Q đẩy ra ngoài, lúc này P và N đang đánh nhau nên P1 và D1 lao vào đánh P giúp N. Hai bên tiếp tục đánh nhau qua lại thì P bị Nguyên vật ngã xuống đất, thấy P bị ngã, N dùng chân đá, đạp vào bụng P, D1 dùng chân đang mang guốc cao khoảng 05cm đạp vào vai của P, sau đó, D1 tháo guốc đang mang đánh nhiều cái vào mặt và người P còn P1 dùng chân đạp vào đầu, dùng tay đánh vào mặt P khiến P ngất xỉu. Thấy vậy, Lê Minh T3, Dương Đức T4 và ông Nông Công H5 cùng với những người xung quanh vào can ngăn nên hai bên dừng lại và đi về. Lúc này, T3 lấy xe chạy ra trước đường để chở P về, khi P ra đến chỗ T3 thì thấy N chạy xe đi về trước, do bực tức về việc bị N đánh tại quán karaoke nên trên đường về, khi thấy N đang dừng ở lề đường thì P nhảy xuống xe nhặt 01 cục gạch ven đường đánh vào đầu của N một cái thì được mọi người can ngăn nên P dừng lại, hai bên đi về.
Về vật chứng vụ thu giữ và xử lý vật chứng:
- 01 đôi guốc dây màu bạc, đế cao 05cm hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ.
- 01 (một) đĩa DVD lưu trữ 01 video có tiêu đề “935789364699746434", dài 01 phút 12 giây; 01 (một) đĩa DVD lưu trữ 01 video có tiêu đề “5216425242903” dài 04 phút 07 giây ghi nhận lại diễn biến vụ việc ngày 01/3/2022 trên lưu trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSCM ngày 06/3/2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Hồ Trung Quốc, Lê Minh P1, Nguyễn Hữu L, Lê Hoàng Bảo N về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Phạm Thọ P, Nguyễn Thị Mỹ D1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo.
- - Đề nghị áp dụng khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 56, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: bị cáo Phạm Thọ P mức án từ 02 năm đến 03 năm tù.
- - Đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 318; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 56, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Trung Q1 mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- - Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt với các bản án trước của các bị cáo.
- - Đề nghị áp dụng khoản 2, Điều 318; Điều 65; điểm n, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D1 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
- - Đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 318; Điều 65; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Minh P1, Lê Hoàng Bảo N, Nguyễn Hữu L mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đối với Lê Minh P1, Nguyễn Thị Mỹ D1 và Lê Hoàng Bảo N có hành vi dùng tay, chân, guốc đánh Phạm Thọ P gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09%, P đã có đơn bãi nại và rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối P1, D1 và N. Tuy nhiên, hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” của P1, D1 và N đã phạm vào điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển hồ sơ để xử phạt theo quy định của pháp luật.
Đối với Phạm Thọ P có hành vi dùng 01 cây gắp đá đánh vào người Lê Minh P1 và dùng 01 viên gạch đánh vào đầu của Lê Hoàng Bảo N gây thương tích xây xát ngoài da, không đáng kể. Lê Minh P1 và Lê Hoàng Bảo N không đi điều trị thương tích tại các cơ sở y tế, không yêu khởi tố vụ án và xử lý hình sự đối với Phạm Thọ P nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Tuy nhiên hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” của P đã phạm vào điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển hồ sơ để xử phạt là đúng quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Thị Thùy T2, Trần Phước H4, Lê Minh T3, Vũ Minh Anh H3, Nguyễn Thế B2, Dương Đức T4 và Nông Công H5, Nguyễn Tuấn T6, Nguyễn Thị Trúc L1 là những người có mặt tại thời điểm xảy ra vụ việc nhưng chỉ đứng xem, can ngăn, không tham gia đánh nhau, gây rối trật tự công cộng nên không phạm tội.
Xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 đôi guốc dây màu bạc.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo trình bày đã biết lỗi, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Khoảng 23 giờ, ngày 01/03/2022, tại quán K” tại ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Phạm Thọ P có hành vi dùng 01 chiếc gắp đá bằng kim loại, Nguyễn Thị Mỹ D1 dùng 01 đôi guốc cao 05 cm, Hồ T, Lê Minh P1, Nguyễn Hữu L, Lê Hoàng Bảo N đánh nhau qua lại, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương thì bị phát hiện, xử lý.
Do đó, Đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Hồ Trung Q1, Lê Minh P1, Nguyễn Hữu L, Lê Hoàng Bảo N về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Phạm Thọ P, Nguyễn Thị Mỹ D1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của Viện Kiểm S là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng trật tự công cộng, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, khiến dư luận nhân dân bất bình, lên án. Do đó cần xử các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi và mức độ phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Lê Minh P1, Nguyễn Hữu L, Lê Hoàng Bảo N, Hồ T phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D1 phạm tội khi đang có thai nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo D1, P1 hiện đang nuôi con nhỏ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, lao động chính trong gia đình; Bị cáo N hiện đang là sinh viên trường Cao đẳng công nghệ và du lịch, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, mang tính chất bộc phát, mặc dù không có sự bàn bạc trao đổi với nhau từ trước nhưng các bị cáo cùng nhau tiếp nhận ý chí và thực hiện hành vi phạm tội, trong đó xuất phát từ mâu thuẫn giữa P với P1, sau đó P là người chủ động dùng chiếc gắp đá bằng kim loại đánh P1 dẫn đến việc bị cáo P1, N, D1 đánh lại P, bị cáo Q1 lao vào đánh P1 giúp P, bị cáo L đánh Q1, trong quá trình đánh nhau D1 dùng guốc đánh vào mặt P. Do đó, mức hình phạt bị cáo P phải nhận cao nhất, tiếp đến là bị cáo D1, N, P1, Q1, L.
Đối với các bị cáo P và Q1 sau khi thực hiện hành vi phạm tội trên còn phạm tội “Giết người”, đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử. Do đó, cần cách ly bị cáo P và Q1 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo D1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hiện đang nuôi con nhỏ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, các bị cáo Lê Minh P1, Nguyễn Hữu L, Lê Hoàng Bảo N phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiên trọng, trong đó bị cáo P1 là lao động chính trong gia đình, đang cùng bị cáo D1 nuôi con nhỏ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo N đang là sinh viên. Các bị cáo có nơi cư trú và việc làm ổn định, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Căn cứ vào hướng dẫn tại nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao về việc “Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo”, nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao về việc “sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của bộ luật hình sự về án treo”, Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà chỉ cần xử phạt các bị cáo mức án tù nhưng cho hưởng án treo với một thời gian thử thách cũng đủ để giáo dục bị cáo và cho bị cáo cơ hội để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, chăm lo cho gia đình.
[4] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 đôi guốc dây màu bạc, bị cáo D1 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) đĩa DVD lưu trữ 01 video có tiêu đề “935789364699746434”, dài 01 phút 12 giây; 01 (một) đĩa DVD lưu trữ 01 video có tiêu đề “5216425242903” dài 04 phút 07 giây ghi nhận lại diễn biến vụ việc ngày 01/3/2022, nên được lưu trong hồ sơ vụ án.
[5] Đối với Lê Minh P1, Nguyễn Thị Mỹ D1 và Lê Hoàng Bảo N có hành vi dùng tay, chân, guốc đánh Phạm Thọ P gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09%, P đã có đơn bãi nại và rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối P1, D1 và N. Tuy nhiên, hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” của P1, D1 và N đã phạm vào điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển hồ sơ để xử phạt là đúng quy định của pháp luật.
Đối với Phạm Thọ P có hành vi dùng 01 cây gắp đá đánh vào người Lê Minh P1 và dùng 01 viên gạch đánh vào đầu của Lê Hoàng Bảo N gây thương tích xây xát ngoài da, không đáng kể. Lê Minh P1 và Lê Hoàng Bảo N không đi điều trị thương tích tại các cơ sở y tế, không yêu khởi tố vụ án và xử lý hình sự đối với Phạm Thọ P nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Tuy nhiên hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” của P đã phạm vào điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển hồ sơ để xử phạt là đúng quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Thị Thùy T2, Trần Phước H4, Lê Minh T3, Vũ Minh Anh H3, Nguyễn Thế B2, Dương Đức T4 và Nông Công H5, Nguyễn Tuấn T6, Nguyễn Thị Trúc L1 là những người có mặt tại thời điểm xảy ra vụ việc nhưng chỉ đứng xem, can ngăn, không tham gia đánh nhau, gây rối trật tự công cộng nên không phạm tội.
[6] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
[7] Đề nghị của Viện kiểm sát: Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố các bị cáo Phạm Thọ P, Hồ T, Nguyễn Thị Mỹ D1, Lê Minh P1, Nguyễn Hữu L, Lê Hoàng Bảo N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
- - Áp dụng: khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 56, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thọ P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 10 (mười) năm tù tại Bản án số 194/2023/HSST ngày 05/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2022.
- - Áp dụng: khoản 1, Điều 318; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 56, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Hồ T (một) năm tù.
Tổng hợp hình phạt 06 (sáu) năm tù tại Bản án số 194/2023/HSST ngày 05/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2022.
- - Áp dụng: khoản 2, Điều 318; Điều 65; điểm n, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D1 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D1 cho UBND xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- - Áp dụng: khoản 1, Điều 318; Điều 65; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Minh P1 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Minh P1 cho UBND xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng Bảo N 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Hoàng Bảo N cho UBND xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- - Áp dụng: khoản 1, Điều 318; Điều 65; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu L 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Hữu L cho UBND xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Áp dụng: khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 56, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
-
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tích thu, tiêu hủy 01 (một) đôi guốc màu bạc, đế cao 05cm. (Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/3/2024).
-
3. Án phí:
Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Buộc các bị cáo Phạm Thọ P, Hồ T, Nguyễn Thị Mỹ D1, Lê Minh P1, Nguyễn Hữu L, Lê Hoàng Bảo N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
4. Quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Đồng Nai;
- - VKSND tỉnh Đồng Nai;
- - VKSND huyện Cẩm Mỹ;
- - Chi cục THADS huyện Cẩm Mỹ;
- - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
- - Bộ phận Thi hành án hình sự;
- - Bị cáo;
- - Lưu Hồ sơ vụ án.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thành viên hội đồng xét xử Lại Thị Thúy Hằng - Lê Đức Dũng |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Bảo |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thọ Pha phạm tội gây rối trật tự công cộng
