TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2024/HS-ST
Ngày 21/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khỏe
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tư
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Diễm Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Tiền - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T. Tên gọi khác: Đen. Giới tính: Nam. Sinh ngày 01/01/1993; Quê quán: Xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Đăng ký thường trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Cha: Nguyễn Văn L, sinh năm 1966; Mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972; A, chị, em ruột: Có 06 người, người lớn nhất sinh năm 1986, người nhỏ nhất sinh năm 2003; Vợ: Nguyễn Thị Phương G, sinh năm 2001; Con ruột: Nguyễn Nhã T2, sinh năm 2020; Tiền sự, Tiền án: Không; Bị cáo bị khởi tố điều tra tại ngoại (có mặt).
* Người bị hại: Anh Nguyễn Thành P, sinh năm 1983 (có mặt).
Địa chỉ: ấp H, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện ủy quyền: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1968 (có mặt).
Địa chỉ: ấp I, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
(Văn bản ủy quyền ngày 08/8/2024)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Thành P, sinh năm 1983, đăng ký thường trú: Ấp H, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang cùng làm bốc vác tại nhà máy X, địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Đêm ngày 18/11/2023, cả hai có tham gia đám tiệc tại nhà anh Trần Ngọc Anh P1, sinh năm 1978, đăng ký thường trú cùng ấp (bán quán nước cạnh nhà máy X) thì xảy ra cự cãi về việc hát nhạc trong lúc nhậu, được can ngăn rồi cả hai ra về.
Khoảng 07 giờ ngày 19/11/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển số 63B1-917.80 đi làm và cất giấu vào túi quần lửng jean bên phải 01 con dao cán nhựa màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, sắc bén, mũi nhọn, loại dao Thái Lan, rồi đến quán nước của anh Trần Ngọc A P1 và nằm võng uống nước. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, anh Nguyễn Thành P đi vào quán nước, rồi đi đến quầy tự làm nước uống. Lúc này, T đi đến đứng phía sau của anh P, rồi T dùng tay phải lấy con dao từ trong túi quần phải cầm đâm nhiều cái vào người anh P làm anh P té ngã ra ngoài vách bên hông bằng cây của quán nước gây ra 05 vết thương: Vết thương mặt trước ngoài 1/3 trên cẳng tay, Vết thương mặt sau ngoài 1/3 giữa dưới cánh tay; Vai trái vết thương mặt sau vai; Chân phải vết thương rách da nông mặt trước trong 1/3 dưới đùi; Vùng lưng vết thương rách da nông vùng lưng.
Sau đó, được mọi người can ngăn, T cầm dao điều khiển xe mô tô biển số 63B1-917.80 bỏ về nhà và vứt con dao dưới sông C đoạn thuộc ấp I, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Anh P được chở đi cấp cứu trị vết thương tại Bệnh viện C1 đến ngày 20/11/2023 xuất viện.
Giấy chứng nhận thương tích số 1386/CN-BVCR của Bệnh viện C1 chứng nhận Nguyễn Thành P: Vào viện lúc 13 giờ 08 phút ngày 19/11/2023, ra viện lúc 18 giờ 00 phút ngày 20/11/2023; tình trạng lúc vào viện: Lâm sàng: Bệnh nhân tỉnh, sinh hiệu ổn, da niêm hồng, than tê tay trái; Tay trái: Vết thương mặt trước ngoài 1/3 trên cẳng tay kích thước khoảng 06x08cm, Vết thương mặt sau ngoài 1/3 giữa dưới cánh tay kích thước khoảng 05x05cm; Vai trái vết thương mặt sau vai kích thước khoảng 03cm; C phải vết thương rách da nông mặt trước trong 1/3 dưới đùi kích thước khoảng 08cm; Vùng lưng vết thương rách da nông vùng lưng kích thước khoảng 01cm.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 11-2024/KLTTCT-TTPY ngày 09/01/2024 của Trung tâm P2 kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Thành P là 21%; Xác định vật gây thương tích: thương tích Nguyễn Thành P do vật sắc gây nên.
- Vật chứng thu giữ trong vụ án:
2
+ 01 di động hiệu nhãn hiệu OPPO màu đen, có ốp lưng màu xanh hiệu adidas và 01 xe mô tô nhãn hiệu Sonnic, màu đen đỏ trắng biển số 63B1-917.80, chủ sỡ hữu là Nguyễn Văn T và do Nguyễn Văn T tự nguyện giao nộp. Các vật chứng trên, Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
+ Đối với hung khí là con dao sau khi gây án, T đã đem vứt dưới sông C, thuộc ấp I, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tổ chức tìm kiếm nhưng không thu giữ được.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu và chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thành P yêu cầu Nguyễn Văn T bồi thường chi phí điều trị thương tích và các chi phí khác với tổng số tiền 183.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho anh P với số tiền 5.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy đã phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
+ Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 03 năm đến 04 năm tù.
+ Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường theo quy định pháp luật.
+ Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tiếp tục tạm giữ 01 di động hiệu nhãn hiệu OPPO màu đen, có ốp lưng màu xanh hiệu adidas và 01 xe mô tô nhãn hiệu Sonnic, màu đen đỏ trắng biển số 63B1-917.80 của bị cáo Nguyễn Văn T để đảm bảo cho việc thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như
3
sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận về hành vi đã thực hiện đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời thừa nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa thể hiện vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 19/11/2023, tại quán nước của anh Trần Ngọc A Phong thuộc ấp H, xã M, huyện C, mặc dù chỉ có mâu thuẫn nhỏ nhặt với anh Nguyễn Thành P nhưng Nguyễn Văn T đã có hành vi chuẩn bị hung khí là loại dao sắc nhọn đâm nhiều cái vào người anh P làm anh P té ngã, gây thương tích tổn hại cho sức khỏe là 21%. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét, hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, ảnh hưởng an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Trong vụ án này mặc dù giữa bị cáo với bị hại chỉ xảy ra mâu thuẫn nhỏ nhặt, nhưng do bản tính côn đồ bị cáo có hành vi chuẩn bị hung khí là dao sắc nhọn đâm nhiều cái vào người bị hại gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 21%. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
4
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tiền thuốc, tiền công lao động của người bệnh, người nuôi bệnh, tiền tổn thất tinh thần và tiền phẫu thuật lại tổng cộng 188.832.880 đồng. Bị cáo chỉ đồng ý bồi thường theo toa thuốc, còn các chi phí khác bị cáo không đồng ý bồi thường. Qua xem xét các khoảng yêu cầu bồi thường của bị hại Hội đồng xét xử xem xét như sau:
+ Đối với chi phí tiền thuốc bị hại yêu cầu 23.432.880 đồng qua xem xét các toa thuốc có hóa đơn, chứng từ hợp lệ có trong hồ sơ như sau: Phiếu thu số 47130 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T 1.557.785 đồng; Hóa đơn thuốc bệnh viện đa khoa huyện C ngày 19/11/2023 là 848.885 đồng; Hóa đơn bán lẻ tiền thuốc ngày 23/11/2023 tại nhà thuốc T3 là 736.000 đồng; Bản kê chi phí điều trị nội trú dịch vụ ngày 23/11/2023 là 1.950.377 đồng; Phiếu thu tiền ngày 23/11/2023 618.000 đồng; Bảng kê tiền thốc ngày 23/11/2023 là 1.865.010 đồng; Hóa đơn thuốc ngày 23/11/2023 là 160.000 đồng; Phiếu thu tiền tại bệnh viện P3 chức năng điều trị nghề nghiệp ngày 23/11/2023 là 1.331.897 đồng; Hóa đơn thuốc tại trung tâm y tế huyện C ngày 25/11/2023 là 57.600 đồng; Biên lai đóng tiền ngày 26/11/2023 tại bệnh viện C1 là 6.903.026 đồng. Tổng cộng 16.028.580 đồng có chứng từ hợp lệ nên chấp nhận; Còn đối với hóa đơn tiền thay băng, cắt chỉ vết mổ 57.600 đồng; Đơn thuốc ngày 05/12/2023 tại bệnh viện C1 2.630.000 đồng; Hóa đơn tiền thuốc ngày 15/12/2023 là 2.081.460 đồng; Hóa đơn tại bệnh viện C1 457.730 đồng; biên lai tiền thuốc 2.177.520 đồng. Tổng cộng: 7.404.310 đồng không có hóa đơn chứng từ nộp trong hồ sơ nên không hợp lệ.
+ Đối với tiền công lao động bị hại yêu cầu 10 tháng x 300.000 đồng/ngày = 90.000.000 đồng. Xét, bị hại bị 05 vếch thương: Vết thương mặt trước ngoài 1/3 trên cẳng tay, Vết thương mặt sau ngoài 1/3 giữa dưới cánh tay; Vai trái vết thương mặt sau vai; Chân phải vết thương rách da nông mặt trước trong 1/3 dưới đùi; Vùng lưng vết thương rách da nông vùng lưng nhập viện ngày 19/11/2023 xuất viện ngày 24/11/2023, bác sĩ không có chỉ định nghỉ ngơi không lao động trong thời gian bao lâu, theo 05 vếch thương của bị hại thì Hội đồng xét xử xem xét cho bị hại tiền công không lao động trong thời gian 05 tháng x 8.000.000 đồng/tháng (do bị hại xác định thu nhập mỗi tháng) = 40.000.000 đồng.
+ Đối với tiền công người nuôi bệnh bị hại yêu cầu 10 ngày x 200.000 đồng = 2.000.000 đồng. Xét, bị hại chỉ điều trị nội trú 05 ngày nên chỉ chấp nhận trong những ngày điều trị nội trú x 200.000 đồng = 1.000.000 đồng.
+ Đối với tiền tổn thất tinh thần bị hại yêu cầu 10 tháng x 2.340.000 đồng = 23.400.000 đồng. Xét, do bị hại có 05 vếch thương nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận tổn thất tinh thần 05 tháng x 2.340.000 đồng = 11.700.000 đồng.
+ Đối với tiền phẩu thuật lại bị hại yêu cầu 50.000.000 đồng nhưng bị hại chưa đi phẫu thuật, nên chưa có hóa đơn chứng từ, nên không được xem xét bồi thường.
Do đó, tổng cộng các chi phí hợp lệ được chấp nhận là 16.028.580 đồng + 40.000.000 đồng + 1.000.000 đồng + 11.700.000 đồng = 68.728.580 đồng được trừ 5.000.000 đồng bị cáo đã bồi thường, nên buộc bị cáo bồi thường tiếp cho bị hại tiếp số tiền 63.728.580 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 584, 590 Bộ
5
luật dân sự và điểm 1 mục II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Các khoảng bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường không được Hội đồng xét xử chấp nhận là 120.104.300 đồng.
[6] Về vật chứng: Đối với 01 di động hiệu nhãn hiệu OPPO màu đen, có ốp lưng màu xanh hiệu adidas và 01 xe mô tô nhãn hiệu Sonnic, màu đen đỏ trắng biển số 63B1-917.80, do bị cáo chưa bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án tiền bồi thường cho bị hại.
[7] Xét, lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
[8] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án nên buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.186.000 đồng (Ba triệu một trăm tám mươi sáu ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 2 Điều 357, Điều 584, 590 Bộ luật dân sự và điểm 1 mục II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường tiếp cho bị hại anh Nguyễn Thành P số tiền 63.728.580 đồng (Sáu mươi ba triệu bảy trăm hai mươi tám ngàn năm trăm tám mươi đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tiếp tục tạm giữ 01 di động hiệu nhãn hiệu OPPO màu đen, có ốp lưng màu xanh hiệu adidas và 01 xe mô tô nhãn hiệu Sonnic, màu đen đỏ trắng biển
6
số 63B1-917.80 của bị cáo Nguyễn Văn T để đảm bảo thi hành án tiền bồi thường cho bị hại.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.186.000 đồng (Ba triệu một trăm tám mươi sáu ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn T, bị hại anh Nguyễn Thành P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hồ Văn Khỏe |
7
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự: cố ý gây thương tích
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy truy tố về tôi "Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015
