|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày 21 tháng 6 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Phạm Văn Toàn |
| Thẩm phán: | Ông Nguyễn Hà Giang |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Phạm Đức Thọ |
| Ông Nguyễn Anh Đào | |
| Bà Nguyễn Thị Phẩm |
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Hà Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quỳnh Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/ST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ tên: MAI ANH TUẤN; Giới tính: Nam; Sinh ngày 29 tháng 9 năm 1979; Nơi cư trú: Khu A, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số thẻ CCCD: [...], Nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Mai Văn C, sinh năm 1947; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1949, hiện ở Khu A, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Đặng Thị Kim N, sinh năm 1980; Con: Có 02 con, (lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007), hiện đều có HKTT tại Khu A, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/12/2023, sau đó chuyển tạm giam 13/12/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Quốc T - Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh P.
Địa chỉ: Số A Đường H, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Có mặt
- Bị hại: Chị Đặng Thị Kim N, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Có mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Cháu Mai Anh T1, sinh 2007. Có mặt
Chị Mai Thị L, sinh năm 1977. Có mặt
Đều có địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 10/12/2023, sau khi đã uống rượu, Mai Anh T2, sinh năm 1979, trú tại khu A, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ đi về nhà mình. Lúc này tại nhà T2, có vợ là chị Đặng Thị Kim N, sinh năm 1980 tên thường gọi là T3 và con gái là cháu Mai An T4, sinh năm 2007 đang ở nhà. T2 đi vào trong nhà gọi “Tuyến ơi, T3 ơi, T3 ơi”, chị N đang ở trong đáp “Dạ, em đây”, T2 đi vào phòng ngủ của vợ chồng rồi gọi chị N. Thấy chị N đi vào phòng thì T2 nói “Hôm nay mẹ mày đẹp thế, cho anh chén cái” ý T2 nói là cho quan hệ tình dục, chị N đáp “Anh bị hâm à”, T2 nói chị N “Mẹ mày sao không nhốt con chó vào, nó làm bẩn hết sân nhà rồi”. Chị N nói lại việc T2 yêu cầu chị N xích, nhốt con chó cái đang đi đực vì làm bẩn nhà nhưng chị N không nhốt được dẫn đến giữa T2 và chị N xảy ra cãi chửi nhau, T2 chửi chị N “Đ*t mẹ mày” chị N bức xúc việc T2 đi uống rượu về nhà chửi vợ con nên đi ra ngoài sân phía chỗ cây xoài. Do đã uống nhiều rượu, T2 cho rằng chị N thách thức mình nên T2 chạy vào trong bếp lấy 01 con dao có chuôi bằng gỗ, loại dao rựa chặt xương, mũi bằng, có 01 lưỡi sắc, bản rộng khoảng 10 cm, chiều dài khoảng 30 cm và chạy ra phía chị N đứng. T2 dùng tay trái dí vào vai chị N, nói “Mày có thích chết không”, chị N nói lại “Anh uống rượu về lại cầm dao chém vợ à”, T2 chửi “Đ*t con mẹ mày, thích chết không” rồi tay phải T2 cầm dao giơ lên chém một nhát theo hướng từ trên xuống, từ phải sang trái trúng vào vùng mặt bên trái của chị N. Chị N bị chém thì đẩy T2 ra và chạy xuống cổng nhà hô hoán, T2 đi theo phía sau thì cháu M An Tâm chạy từ trong nhà ra thấy T2 cầm dao nên lao vào du đẩy làm T2 ngã ngồi xuống nền cổng còn cháu T4 bị ngã ra phía trước chỗ dốc lên cổng. Khi cháu T4 đứng dậy thấy tay phải T2 vẫn đang cầm dao, cháu T4 tiếp tục lao vào giằng co con dao trên tay T2, quá trình giằng co do cháu T4 đứng dưới dốc, T2 đứng trên cao nên T2 bị kéo tay, tuột dao rơi trúng vào vùng đầu của cháu T4. Thấy vậy, T2 không đuổi theo chị N nữa mà chửi bới rồi đi vào trong nhà ngủ; chị N và cháu T4 được đưa đi cấp cứu.
Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường là nhà ở của Mai Anh T2 tại khu A, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ phát hiện các dấu vết chất dịch màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt từ phía trước cửa kho (vị trí gần gốc cây xoài, phía trên cổng) đến vị trí tiếp giáp đường liên khu và thu giữ 01 (một) con dao, dạng dao rựa có tổng chiều dài 36,5 cm, cán dao làm bằng gỗ dài 13 cm, lưỡi dao bằng kim loại có một lưỡi sắc dài 23,5 cm, bản dao rộng 10 cm, đầu mũi bằng. Hồi 17 giờ 00 ngày 10/12/2023 kiểm tra nồng độ cồn của Mai Anh T2 là 1,131mg/l khí thở.
Xác minh thương tích ban đầu của chị Đặng Thị Kim N bị thương tích: Vùng mặt trái có 01 vết thương dài 18 cm từ thái dương trái ngang sụn vành tai trái đến khoé miệng bên trái, rộng 07 cm, lộ xương, tổn thương mạch máu thần kinh xung quanh. Chị N được cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P và Bệnh viện T5.
Cháu Mai An T4 bị thương tích: Vùng chẩm có vết thương dài khoảng 05 cm, bờ sắc gọn, vết thương sâu khoảng 02 cm, rách gân Galea, có mảnh xương sọ bị mẻ rời KT (5x5) mm. Kết quả chụp CLVT kết luận không thấy hình ảnh chảy máu não, màng não; không thấy hình ảnh lún vỡ xương hộp sọ. Cháu T4 được cấp cứu, điều trị tại Trung tâm y tế huyện H, tỉnh Phú Thọ.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với chị Đặng Thị Kim N và giám định dấu vết sinh học trên con dao đã thu giữ. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 38/KLTTCT/TTPY ngày 11/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận:
“Trên cơ thể chị Đặng Thị Kim N có những thương tích sau. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của từng thương tích:
- + Vết sẹo vùng mặt bên trái: 06 %.
- + Gãy xương hàm bên trái còn phương tiện kết hợp xương: 08 %.
- + Tổn thương các nhánh thần kinh sọ số VII bên trái: 10 %.
- + Mất răng R2.5: 1,5 %.
- + Gãy ½ thân răng R2.4: 0,75 %.
- + Vỡ răng R2.6: 1,25 %.
- + Tại thời điểm giám định chỉ định chụp CT Scanner hàm mặt không thấy hình ảnh mẻ xương mỏm vẹt bên trái nên Trung tâm pháp y không có căn cứ tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư: 24,86 %.
Làm tròn: 25 % (Hai mươi lăm phần trăm).
Kết luận tại thời điểm giám định:
Căn cứ thông tư số 13/2022/TT-BYT ngày 30/11/2022 của Bộ trưởng Bộ Y ban hành quy trình giám định pháp y. Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
+ Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Đặng Thị Kim N tại thời điểm giám định là 25 % (Hai mươi lăm phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
+ Cơ chế hình thành vết sẹo vùng mặt bên trái, tổn thương các nhánh thần kinh VII bên trái, G xương hàm bên trái, mất răng R2.5: 1,5 %, gãy ½ thân răng R2.4: 0,75 %, vỡ răng R2.6: 1,25 %: Do tác động của vật sắc gây nên.
+ Với những thương tích nêu trên của chị Đặng Thị Kim N nếu không được cấp cứu kịp thời thì có thể tử vong”.
Tại Bản kết luận giám định số: 9307/KL-KTHS ngày 16 tháng 01 năm 2024 của V Bộ C1 kết luận: Trên con dao (ký hiệu M) có bám dính dấu vết máu người và là máu của Đặng Thị Kim N, không phát hiện thấy máu của Mai An T4.
Đối với thương tích của cháu Mai An T4, ngày 15/3/2024 Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định thương tích và tống đạt cho cháu T4, tuy nhiên cháu T4 cho rằng bố cháu là Mai Anh T2 không cố ý gây thương tích cho cháu, vết thương của cháu đã ổn định, không để lại dị tật gì. Cháu T4 không yêu cầu bồi thường, không đề nghị xử lý bố cháu. Cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải, tuy nhiên cháu T4 kiên quyết từ chối giám định, không chấp hành dẫn giải để giám định.
Cơ quan điều tra đã cho Mai Anh T2 nhận diện qua ảnh đối với con dao thu giữ tại hiện trường, T2 khẳng định con dao Cơ quan điều tra thu giữ đúng là dao T2 đã dùng chém chị N vào trưa ngày 10/12/2023.
Xét thấy, hành vi của Mai Anh T2 có dấu hiệu của tội “Giết người”, ngày 10/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã chuyển tin báo để điều tra theo thẩm quyền. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Mai Anh T2 về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, Mai Anh T2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. T2 đã bồi thường số tiền 50.000.000 đồng để chi trả viện phí cho chị N và cháu T4. Đến nay chị N và cháu T4 không có yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự, chị N có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T2.
Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSPT-P2 ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố Mai Anh T2 về tội "Giết người" quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Anh T2 phạm tội "Giết người".
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 54; Điều 57 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Mai Anh T2 từ 05 năm đến 06 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại Đặng Thị Kim N số tiền 50.000.000 đồng.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 dao, dạng dao rựa có tổng chiều dài 36,5 cm, cán dao làm bằng gỗ dài 13 cm, lưỡi dao bằng kim loại có một lưỡi sắc dài 23,5 cm, bản dao rộng 10 cm, đầu mũi bằng.
Trả lại cho bị cáo Mai Anh T2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
* Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm:
Về tội danh nhất trí như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát; về hình phạt: Viện kiểm sát đề nghị là quá nghiêm khắc.
Bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo phạm tội chưa đạt, bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng, người bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác người bị hại có một phần lỗi.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo 04 năm tù là phù hợp.
* Người bị hại không có tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án như luật sư đề nghị.
* Bị cáo không có tranh luận gì và có lời nói sau cùng, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở múc thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Mai Anh T2 đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã xác định:
Khoảng 12 giờ 30 ngày 10/12/2023, sau khi đi uống rượu về nhà, Mai Anh T2 và vợ là chị Đặng Thị Kim N có lời qua, tiếng lại. Do T2 sử dụng nhiều rượu, cho rằng chị N có thái độ với mình nên Mai Anh T2 đã đi vào bếp lấy 01 con dao, dạng dao rựa có tổng chiều dài 36,5 cm, cán dao làm bằng gỗ dài 13 cm, lưỡi dao bằng kim loại có một lưỡi sắc dài 23,5 cm, bản dao rộng 10 cm, đầu mũi bằng. T2 dùng tay trái dí vào người chị N tựa lưng vào tường, còn tay phải cầm dao giơ lên cao chém một nhát từ trên xuống, từ phải sang trái trúng vào vùng mặt bên trái của chị N gây thương tích, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 25 %.
Hành vi dùng hung khí nguy hiểm của T2 chém vào vùng mặt là vùng trọng yếu trên cơ thể của chị N, có thể tước đoạt mạng sống của chị N nếu chị N không được cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong. Do vậy cần xử lý Mai Anh T2 về tội “Giết người” thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Hành vi của T2 cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định, hành vi của Mai Anh T2 đã phạm tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự theo Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Đối với cháu Mai A T4 bị thương tích trong quá trình can ngăn bị cáo nên con dao của bị cáo rơi vào đầu, cháu mai từ chối không đi giám định thương tích và không có đề nghị gì, Cơ quan điều tra chuyển xử lý hành chính theo thẩm quyền là phù hợp.
[2] Xét tính chất của vụ án: Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi đó còn gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã bồi thường số tiền 50.000.000 đồng để chi trả viện phí cho chị Đặng Thị Kim N và cháu Mai An T4. Quá trình điều tra và tại phiên toà chị N và cháu T4 không yêu cầu phải bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác và chị N tha thiết xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, mặt khác bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hành vi “Giết người” của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 và khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Xét về tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy cần áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt như Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo.
[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 điều 123 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”. Bị cáo làm nghề tự do không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại Đặng Thị Kim N và cháu M An Tâm số tiền 50.000.000 đồng. Chị N và cháu T4 không yêu cầu phải bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác, do vậy Hội đồng xét xử xác nhận việc bồi thường là hợp pháp.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 con dao có tổng chiều dài 36,5 cm, cán dao làm bằng gỗ dài 13 cm, lưỡi dao bằng kim loại có một lưỡi sắc dài 23,5 cm, bản dao rộng 10 cm, đầu mũi bằng là vật chứng liên quan đến việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[6] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.
Quan điểm Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng người bị hại có một phần lỗi và đề nghị mức hình phạt 04 năm tù đối với bị cáo là không phù hợp nên không được chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về điều luật áp dụng:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
[2] Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Mai Anh T2 phạm tội "Giết người"
[3] Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Mai Anh T2 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 10/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Xác nhận bị cáo Mai Anh T2 đã bồi thường cho bị hại Đặng Thị Kim N số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 dao được đựng trong 01 gói niêm phong, bên ngoài có tem niêm phong có chữ ký thành phần tham gia và 02 hình dấu đỏ của V - Bộ C1. Bên trong gói niêm phong có 01 con dao có tổng chiều dài 36,5 cm, chuôi dao làm bằng gỗ dài 13 cm, lưỡi dao bằng kim loại, bản dao rộng 10 cm, sống dao dày 0,5 cm.
Trả lại cho bị cáo Mai Anh T2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, máy cũ đã qua sử dụng, màn hình cảm ứng bị nứt vỡ, số IMEI 1: 353220824425174, số IMEI 2: 353319904425177 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ ngày 23/4/2024).
[6] Về án phí:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Mai Anh T2 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐÔNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Toàn |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự về tội "giết người"
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Giết người"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giết người
