|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày: 21-6-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản
Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thanh Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Tương
Ông Phạm Văn Trịnh
Bà Nguyễn Thị Tố Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Hà My - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QÐST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Đức K (tên gọi khác: Khánh Đ), sinh ngày 20/10/1997 tại Bình Thuận. Nơi ở: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức N, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1959; Vợ: Trần Thị Kim C, sinh năm 2003; con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ sau đó chuyển tạm giam từ ngày 14/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh B.
- Lê Ngọc P (tên gọi khác: T), sinh ngày 02/9/1993 tại Bình Thuận. Nơi ở: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc H, sinh năm 1968 và bà Thái Thị B, sinh năm 1968. Vợ: Trần Thị Minh Y, sinh năm 1997; Con: 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giam từ ngày 11/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
(có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo K: Luật sư Nguyễn Văn H1, thuộc Công ty L2 (có mặt).
- Bị hại: Ông Cao Trúc L, sinh năm 1992 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Nguyễn Lê Thanh T1, sinh năm 1999. Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Nguyễn Tấn Đ1, thuộc Công ty L3 – Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, số B N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Trần Thị Kim C, sinh năm 2003. Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (có mặt).
- + Trần Thị Minh Y, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (có mặt).
· Người làm chứng:
- + Phan Tấn K1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (có mặt).
- + Nguyễn Trường D, sinh năm 1999. Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (có mặt).
- + Phan Tấn G, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 00 ngày 13/8/2023, Cao Trúc L (tên thường gọi R) đến nhậu tại nhà của Phan Tấn K1 cùng Lê Ngọc P (T), Nguyễn Trường D, Phan Tấn G. Trong lúc nhậu, L nói với P “mày về nói thằng Khánh đô (là Nguyễn Đức K, em cột chèo của P) lên đây đừng có muốn làm gì thì làm”, thì P nói “nó làm gì mày đâu mà mày nói vậy, nó ở đây chứ đâu” thì L chửi thề và nói “mày thích thì kêu thằng K đô lên bạc co với tao”. P và L ngồi thách đố với nhau về việc cho K và L đánh nhau tay đôi xem ai hơn ai. Ngay sau đó, P gọi điện thoại nói cho K biết việc có L muốn đánh nhau với K và nói K ra trước khu vực vựa thanh long N1 thuộc thôn D, xã H cách vị trí nhóm P đang nhậu khoảng 30 mét để gặp L. Nghe có người đòi đánh nhau với mình, K mang theo 01 con dao bằng kim loại có màu bảy sắc cầu vồng, dài 24,3 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 9,7cm, mũi nhọn mà K nhặt được trước đó để trong túi quần lửng bên phải cùng vợ là Trần Thị Kim C (sinh năm 2003 trú tại thôn D, xã H) đi đến điểm hẹn. Trong khi chờ K đến, P mới nói với G, K1, D: “Tí nữa thằng K đô đến sô lô với thằng R tụi mày ra coi”. Sau đó P đi ra ngoài tiếp tục sử dụng điện thoại của mình để gọi hối thúc K đi ra đánh nhau với L.
Khi K đi ra đến nơi thì P thông báo cho L, K1, D, G đi ra khu vực vựa thanh long N1 để xem L đánh nhau với K. Khi nhóm của L đi ra, P dùng tay chỉ cho K biết vị trí L đứng. K đi đển chỗ L đang đứng và hỏi “Mày đòi cạch tao hay sao?” thì L nói “tao nè” rồi L xông vào K, K dùng chân phải đạp vào vùng bụng của L làm L lùi về sau, sau đó L tiếp tục lao vào K thì K dùng tay phải rút dao từ trong túi quần ra đâm liên tiếp 02 nhát vào vùng đùi trái của L. Nguyễn Trường D đứng xem thấy vậy mới vào can ngăn thì K nghĩ D tấn công K nên K dùng dao chém D, D né sang trái thì bị chém trúng vào khuỷu tay trái, D quay lưng bỏ chạy thì bị K dùng dao chém thêm một nhát nữa trúng vào lưng của D. Lúc này L lùi lại di chuyển sang phía bên phải của K rồi tiếp tục xông vào K thì K dùng dao đâm một nhát từ trên xuống dưới trúng cổ của L. Sau đó, K cầm dao bỏ chạy đến khu vực nhà bà Đậu Thị T2 (sinh năm 1975) thuộc thôn D, xã H thì ném con dao gây án tại đây rồi bắt xe bỏ trốn đi ra P - Ninh Thuận. Còn Cao Trúc L được P và K1 đưa đi cấp cứu nhưng sau đó đã tử vong. Đến tối ngày 14/8/2023, Nguyễn Đức K đi đến Công an huyện H để đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
- Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh B lập hồi 01 giờ 00 ngày 14/8/2023 xác định: Hiện trường vụ án xảy ra thuộc khu vực trước sân kho thanh long N2 thuộc thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Tại vị trí cách góc bên phải kho thanh long N2 09m20 về hướng Bắc và cách mép đường quốc lộ 1A 02m45 phát hiện vùng chất màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt phun tia và bệt bám dính trên nền bê tông, kích thước (2,1x1,6)m, (vị trí số 1). Từ tâm vị trí số 1 đo về hướng Đông 01m80 phát hiện vùng chất màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt, bệt, phun tia bám dính trên nền bê tông kích thước (02 x 1,9)m, vị trí này cách mép đường quốc lộ 1A 1m50, (vị trí 2). Từ tâm vị trí 2 đo về hướng Đông 01m70 phát hiện vùng chất màu nâu đỏ dạng nhỏ giọt không đều không liên tục kích thước (1,4 x 1,2)m, bám dính trên nền bê tông. Vị trí này cách mép đường Q 02m30, (vị trí 3). Từ tâm vị trí 3 đo về hướng Đông 2m10 phát hiện 01 đôi dép cao su màu vàng (dép bên trái nằm ngữa, dép bên phải nằm úp có bám dính chất màu nâu đỏ). Vị trí này cách mép đường quốc lộ 1A 01m70, (vị trí 4). Từ tâm vị trí 4 đo về hướng Nam 04,10m, phát hiện 01 ly thủy tinh. Vị trí này cách mép đường quốc lộ 1A 05m40, (vị trí 5).
- Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 183/KLGĐTT-TTPYВТ, ngày 27/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận:
- + Một vết thương vùng mặt trước cổ thấu ngực, thủng phổi trái, đứt bán phần động mạch cánh tay đầu trái làm tràn máu vào khoang ngực trái. Vết thương do vật sắc nhọn gây ra theo chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới với lực tác động mạnh.
- + Hai vết thương vùng đùi trái làm đứt cân cơ đùi trái do vật sắc nhọn gây ra theo chiều hướng từ trái sang phải, từ dưới lên trên với lực tác động mạnh.
- + Vết xây xát nông vùng ngực trái do vật tày gây ra với lực tác động nhẹ, chiều hướng tác động phụ thuộc vào tư thế tay phải của nạn nhân với vật gây thương.
- Kết quả xét nghiệm mô bệnh học: Đứt thủng da, đứt thủng phổi, tụ máu trong cơ; Tụ máu quanh mạch.
- Kết quả xét nghiệm độc chất trong mẫu máu: Không phát hiện các độc chất thường gặp.
- Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu toàn phần: 275,08 mg/100ml.
- Kết luận nguyên nhân chết: Vết thương vùng cổ thấu ngực, thủng phổi trái, đứt bán phần động mạch cánh tay đầu trái làm tràn máu vào khoang ngực trái gây suy tuần hoàn cấp, suy hô hấp cấp dẫn đến tử vong. (BL 80-81).
Ngày 15/8/2023, Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm vật chứng, thu giữ phía sau nhà bà Đậu Thị T2 thuộc thôn D, xã H 01 con dao bằng kim loại có màu bảy sắc cầu vồng, dài 24,3 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 9,7cm, mũi nhọn, một mặt cắt, bản lưỡi dao nơi rộng nhất là 1,7cm. Cán dao bằng kim loại dài 12,2cm, mỗi bên mặt cán dao có 10 lỗ tròn và 4 lỗ hình bầu dục. Chốt dao bằng kim loại dài 2,4cm. Nguyễn Đức K xác định đây là con dao mà K sử dụng đâm L tử vong (BL 61,119).
Tại Kết luận giám định số 5512/KL-KTHS ngày 22/9/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Trên con dao đã thu giữ không phát hiện thấy dấu vết máu; các dấu vết màu nâu đỏ thu giữ tại vị trí 1,2,3 đều là máu người, kiểu gen của các dấu vết màu nâu đỏ này trùng với kiểu gen của Cao Trúc L. (BL: 102 ).
Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 566/KLTTCT-TTPYBT ngày 08/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với Nguyễn Trường D kết luận: Vết thương phần mềm mặt sau khuỷu tay trái đã được điều trị, hiện còn đóng vảy nâu KT (8x0,5)cm. Vết thương phần mềm vùng lưng ngang mức cột sống ngực D2 đã được điều trị, hiện để lại sẹo KT (2x0,3)cm. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Trường D tại thời điểm giám định là 3%. (BL: 95).
Việc thu giữ, xử lý vật chứng:
- - 01 (một) con dao bằng kim loại có màu bảy sắc cầu vòng là hung khí K dùng để đâm Cao Trúc L.
- - 03 mẫu chất màu nâu đỏ, 02 chiếc dép cao su màu vàng, 01 ly thủy tinh được thu giữ tại hiện trường (BL 71).
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận ra Quyết định chuyển vật chứng, chuyển đến kho vật chứng Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận bảo quản, chờ xử lý.
Về phần dân sự:
Đại diện của người bị hại bà Nguyễn Lê Thanh T1 yêu cầu K, P bồi thường tổng số tiền 1.066.050.000 đồng, bao gồm: tiền tổn thất tinh thần 180.000.000 đồng, tiền mai táng 76.050.000 đồng, tiền cấp dưỡng cho cháu Cao Hoàng L1 (sinh năm 2017, là con của anh L) đến khi 18 tuổi là 710.000.000 đồng, tiền cấp dưỡng cho ông Cao T3 (sinh năm 1955, cha của anh L) đang bị bệnh nằm liệt giường không có khả năng lao động 100.000.000 đồng và yêu cầu chỉ nhận tiền bồi thường một lần. Phía Nguyễn Đức K đã tác động gia đình bồi thường 40.000.000 đồng, Lê Ngọc P đã tác động gia đình bồi thường số tiền 30.000.000 đồng nộp vào tài khoản thi hành án của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận để đảm bảo thi hành án dân sự.
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSBT-P2 ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Đức K về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và truy tố bị cáo Lê Ngọc P về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- - Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- - Đại diện bị hại chị Nguyễn Lê Thanh T1 có ý kiến: Về trách nhiệm dân sự, đề nghị các bị cáo phải bồi thường các khoản gồm:
- + Tổn thất tinh thần 180.000.000đ.
- + Chi phí mai táng 76.000.000đ.
- + Cấp dưỡng nuôi cháu Cao Hoàng L1, sinh ngày 30/5/2017 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi: 142 tháng x 3.000.000đ/tháng = 426.000.0000đ.
- + Tiền cấp dưỡng cho ông Cao T3: 100.000.000đ.
Tổng cộng là 782.000.000đ. Đại diện bị hại yêu cầu bồi thường một lần.
- - Các bị cáo thống nhất bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của bị hại, đồng ý bồi thường một lần. Các bị cáo tự thỏa thuận mức bồi thường của từng bị cáo (bị cáo K bồi thường 7 phần, bị cáo P bồi thường 3 phần).
- - Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Về trách nhiệm hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức K phạm tội “Giết người”;
- Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo K từ 15 năm đến 16 năm tù.
- Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc P phạm tội “Giết người”;
- Áp dụng: khoản 2 Điều 123, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo P từ 7 năm đến 8 năm tù.
- + Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: tịch thu, tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại có màu bảy sắc cầu vòng; 02 chiếc dép cao su màu vàng, 01 ly thủy tinh; 03 mẫu chất màu nâu đỏ.
- + Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của đại diện bị hại và các bị cáo.
- - Luật sư Nguyễn Văn H1 là người bào chữa cho bị cáo K đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm t (tích cực hợp tác với cơ quan điều tra), điểm r (người phạm tội tự thú) khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo K.
- - Luật sư Nguyễn Tấn Đ1 là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Số tiền các bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả là không đáng kể so với yêu cầu bồi thường nên đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo K tù chung thân.
- - Đại diện bị hại: Đề nghị xử nghiêm các bị cáo, xử chung thân bị cáo K.
- - Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Không có căn cứ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như ý kiến của người bào chữa. Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (số tiền đã bồi thường là căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và không có khiếu nại của những người tham gia tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ 00 ngày 13/8/2023, trong lúc ngồi uống bia với nhau, Cao Trúc L thách đố Lê Ngọc P gọi Nguyễn Đức K ra đánh nhau tay đôi với L. P dùng điện thoại gọi cho K, xúi giục K đi ra khu vực trước vựa thanh long N1 thuộc thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận để đánh nhau với L. Khi đi, K mang theo một con dao nhọn và đến điểm hẹn, khi gặp nhau hai bên xông vào thì K dùng dao đâm 02 nhát vào vùng đùi của L và sau đó đâm 01 nhát trúng vào vùng cổ thấu ngực, thủng phổi, đứt bán phần động mạch cánh tay đầu trái làm Cao Trúc Linh tử vong.
[3] Giữa bị cáo Nguyễn Đức K và bị hại Cao Trúc L không hề quen biết với nhau trước đó, nhưng khi nghe Lê Ngọc P gọi điện thoại báo có người muốn đánh nhau với K thì K đã mang theo dao đến và sau đó K dùng dao đâm 03 nhát vào người của bị hại Cao Trúc L trong đó có 01 nhát vào cổ làm bị hại chết trên đường đi cấp cứu. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Đức K về tội “Giết người” với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đối với Lê Ngọc P, mặc dù không biết K mang theo dao, không mong muốn gây ra cái chết cho Cao Trúc L, nhưng P là người gọi điện, hối thúc K đi ra đánh nhau với L, hành vi của P đã góp phần thúc đẩy, kích động K và L đánh nhau, khi K dùng dao đâm L thì P không can ngăn, có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra, là đồng phạm với K với vai trò là người xúi giục. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Lê Ngọc P về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại. Số tiền gia đình các bị cáo đã nộp để khắc phụ hậu quả (K nộp 40.000.000đ, P nộp 30.000.000₫) tuy không lớn so với số tiền phải bồi thường nhưng cũng thể hiện tinh thần, thái độ của các bị cáo trong việc bồi thường thiệt hại. Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, áp dụng tình thiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo (mức bồi thường là căn cứ xem xét mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sẽ được cân nhắc, đánh giá khi lượng hình). Về ý kiến của người bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị báo K. Hội đồng xét xử xét thấy: Điểm h khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định “Tự thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện”. Ngày 14/8/2023, K đến Công an huyện H để khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thời điểm này tội phạm và người phạm tội đã được phát hiện, nên không đủ điều kiện áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự như ý kiến của người bào chữa, Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (đầu thú) cho bị cáo K. Bị cáo Khánh thành k khai báo, đã được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không đủ điều kiện áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án) như ý kiến của người bào chữa. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt.
[6] Xét tính chất, mức độ và vai trò của các bị cáo: hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo K trực tiếp gây ra cái chết cho L, thực hiện hành vi phạm tội một cách quyết liệt, đâm liên tục vào người bị hại, không những tước bỏ tính mạng của người khác, mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang, bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân, nên cần phải xử lý nghiêm và áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo. Bị cáo P là đồng phạm với K, có vai trò thứ yếu, không trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách hình sự thấp hơn. Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy xử phạt các bị cáo mức án tù có thời hạn là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên toà, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 782.000.000đ, gồm các khoản sau:
- - Tổn thất tinh thần: 180.000.000đ.
- - Chi phí mai táng: 76.000.000đ.
- - Cấp dưỡng nuôi cháu Cao Hoàng L1, sinh ngày 30/5/2017 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi: 142 tháng x 3.000.000đ/tháng = 426.000.0000đ.
- - Tiền cấp dưỡng cho ông Cao T3 (cha bị hại, ông T3 bị bệnh mà bị hại có trách nhiệm nuôi dưỡng): 100.000.000đ.
Các khoản tiền trên, đại diện bị hại yêu cầu bồi thường một lần. Các bị cáo thống nhất bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của bị hại, đồng ý bồi thường một lần. Các bị cáo tự thỏa thuận mức bồi thường của từng bị cáo là bị cáo K bồi thường 7 phần, bị cáo P bồi thường 3 phần, khoản tiền gia đình các bị cáo đã nộp được trừ vào số tiền bồi thường. Xét thấy sự thỏa thuận của đại diện bị hại và các bị cáo là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được công nhận.
[8] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 (một) con dao bằng kim loại có màu bảy sắc cầu vồng, 03 mẫu chất màu nâu đỏ, 02 chiếc dép cao su màu vàng, 01 ly thủy tinh được thu giữ tại hiện trường. Đây là công cụ phạm tội, vật chứng không có giá trị và không sử dụng được nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự,
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức K phạm tội “Giết người”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức K 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2023.
- - Căn cứ khoản 2 Điều 123, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, khoản 1 Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự,
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc P phạm tội “Giết người”.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc P 7 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2024.
- - Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 591 Bộ luật dân sự:
- Công nhận sự thỏa thuận giữa đại diện bị hại và các bị cáo. Bị cáo Nguyễn Đức K và bị cáo Lê Ngọc P phải liên đới bồi thường cho đại diện bị hại Cao Trúc L do bà Nguyễn Lê Thanh T1 đại diện nhận số tiền 782.000.000 đồng, bao gồm:
- - Tổn thất tinh thần: 180.000.000đ.
- - Chi phí mai táng: 76.000.000đ.
- - Cấp dưỡng nuôi cháu Cao Hoàng L1, sinh ngày 30/5/2017 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi: 142 tháng x 3.000.000đ/tháng = 426.000.0000đ.
- - Tiền cấp dưỡng cho ông Cao T3 (cha bị hại, ông T3 bị bệnh mà bị hại có trách nhiệm nuôi dưỡng): 100.000.000đ.
- Xác định trách nhiệm bồi thường của từng bị cáo như sau:
- - Bị cáo Nguyễn Đức K bồi thường 547.400.000 đồng, khấu trừ số tiền 40.000.000đ gia đình bị cáo đã nộp theo Giấy nộp tiền vào tài khoản của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận số [...] do Ngân hàng V lập ngày 19/02/2024, bị cáo K còn phải bồi thường 507.400.000 (Năm trăm lẻ bảy triệu bốn trăm nghìn) đồng.
- - Bị cáo Lê Ngọc P bồi thường 234.600.000 đồng, khấu trừ số tiền 30.000.000đ gia đình bị cáo đã nộp theo Giấy nộp tiền vào tài khoản của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận số [...] do Ngân hàng V lập ngày 19/02/2024, bị cáo P còn phải bồi thường 204.600.000 (Hai trăm lẻ bốn triệu sáu trăm nghìn) đồng.
- Các khoản tiền gia đình các bị cáo đã nộp vào tài khoản của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận giao cho đại diện bị hại là bà Nguyễn Lê Thanh T1.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại có màu bảy sắc cầu vồng, 02 chiếc dép cao su màu vàng, 01 ly thủy tinh, 03 mẫu chất màu nâu đỏ.
- (Các vật chứng nêu trên theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/3/2024 giữa Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận và Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh B).
- - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Buộc bị cáo Nguyễn Đức K phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 24.296.000 (Hai mươi bốn triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Buộc bị cáo Lê Ngọc P phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.230.000 (Mười triệu hai trăm ba mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/6/2024).
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi thành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quản |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về vụ án hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức K, Lê Ngọc P phạm tội "Giết người"
