|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK ---------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 35/2024/HSST
Ngày 21/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hán
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Văn Liên
- 2. Bà Nguyễn Thị Chinh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy– Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Ánh T – Sinh năm 1972 tại Thừa Thiên – Huế. Nơi thường trú: 20/116 đường B, phường S, quận T, Tp .; nơi ở hiện nay: Thôn G, xã T, huyện K, Đắk Lắk. Nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ. Con ông: Nguyễn N (chết); con bà: Phạm Thị C (chết); chồng là Nguyễn Đức Lê P (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/11/2023 đến ngày 20/11/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Họ và tên: Nguyễn Thị Thùy T1 – Sinh năm 1995 tại Thừa Thiên – Huế. Nơi thường trú: 20/116 đường B, phường S, quận T, Tp .; nơi ở hiện nay: Thôn G, xã T, huyện K, Đắk Lắk. Nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ. Con ông: Nguyễn Đức Lê P; con bà: Nguyễn Thị Ánh T (là bị cáo trong vụ án); chồng là Phan Tấn K; có 01 con, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hồ Thị Ú (sinh năm 1997) – vắng mặt.
- Anh Nguyễn Ngọc S (sinh năm 1995) – vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị S1 (sinh năm 1961) – vắng mặt.
Đều trú tại: Thôn P, xã T, huyện K, Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Ánh T mở quán bán cơm tại thôn G, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và có quen biết với Hồ Thị Ú. Từ đầu tháng 3/2023, Ú nhiều lần hỏi vay tiền của T để đầu tư mua bán bất động sản thì T đồng ý. Hình thức giao dịch vay tiền là Ú và T gặp trực tiếp trao đổi, viết giấy vay tiền hoặc sử dụng mạng xã hội zalo để nhắn tin cho nhau. Ú sử dụng tài khoản zalo tên “Khang Duy” được đăng ký bằng số thuê bao 0356874529, nhắn tin đến tài khoản zalo của T tên “Ánh Tuyết” được đăng ký bằng số thuê bao 0933714066 để thỏa thuận số tiền vay, ngày vay và ngày trả. Sau khi thoả thuận, thống nhất lãi suất và thời hạn vay, T nói cho con gái của T là Nguyễn Thị Thùy T1 biết các thoả thuận về số tiền vay, thời gian vay, số tiền lãi các khoản vay mà T cho Ú vay để T1 tính toán tiền lãi các khoản vay của Ú, đồng thời giúp T chuyển, nhận tiền vay và tiền lãi với Ú. T1 sử dụng tài khoản ngân hàng V số [...] của T1 để chuyển, nhận tiền vay, tiền lãi với Ú qua tài khoản ngân hàng A số 3143777 của Ú. Ngoài ra, T1 còn thông qua T, cho Ú vay tiền của T1 để lấy lãi.
Từ ngày 04/3/2023 đến ngày 30/6/2023, Nguyễn Thị Ánh T và Nguyễn Thị Thùy T1 đã cho Hồ Thị Ú vay tiền 47 lần, với tổng số tiền là 10.490.000.000 đồng (trong đó, có số tiền của T1 là 865.000.000₫). Lãi suất mỗi lần vay giao động từ 3.000đ/01 triệu/01 ngày đến 60.000đ/01 triệu/01 ngày, tương ứng từ 109,5% đến 2.190%/năm. Số tiền lãi thu lợi bất chính của 47 lần vay là 1.197.585.069 đồng, trong đó T thu lợi bất chính số tiền 1.177.804.247 đồng; T1 thu lợi bất chính số tiền 68.127.533 đồng.
Trong số 47 lần vay, Hồ Thị Ú đã trả đủ tiền gốc và tiền lãi được 42 lần với tổng số tiền 9.499.670.000đ. Trong đó, 8.640.000.000đ là tiền vay gốc; 859.670.000đ là tiền lãi; số tiền thu lợi bất chính là 833.461.781 đồng. Trong 42 lần vay này, có 07 lần vay có phần tiền của T1 với tổng số tiền 865.000.000đ, T1 thu lợi bất chính số tiền 68.127.533đ. Ngoài ra, Nguyễn Thị Ánh T còn cho Hồ Thị Ú vay 05 lần khác với tổng số tiền là 1.850.000.000đ, trong đó 1.550.000.000₫ tính lãi 40.000đ/01 triệu/01 ngày, tương đương 1.460%/năm; 300.000.000₫ tính lãi 50.000đ/01 triệu/01 ngày, tương đương 1.825%/năm. Từ ngày vay đến ngày 01/7/2023, Ú đã trả 146.000.000đ tiền gốc và 349.000.000₫ tiền lãi. Số tiền lãi được thu theo quy định là 4.657.534đ, số tiền thu lợi bất chính là 344.342.466đ. Tính đến ngày 01/7/2023, Ú còn nợ T 1.704.000.000₫ tiền gốc và 96.000.000đ tiền lãi (tổng số tiền nợ là 1.800.000.000₫), cụ thể như sau:
* Các lần vay đã trả đủ tiền gốc và tiền lãi.
Lần thứ 1: Ngày 04/3/2023, Nguyễn Thị Ánh T cho Hồ Thị Ú vay số tiền 50.000.000đ, với lãi suất 3.000đ/01 triệu/01 ngày (tương đương 109,5%/năm). Đến ngày 20/4/2023, Ú đã trả 50.000.000đ tiền gốc và 7.200.000đ tiền lãi của 48 ngày vay, số tiền lãi theo quy định (20%/năm) là 1.315.068đ; tiền thu lợi bất chính là 5.884.932đ.
Lần thứ 2: Ngày 13/3/2023, T cho Ú vay số tiền 100.000.000₫ với lãi suất 3.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 20/4/2023, Ú đã trả 100.000.000đ tiền gốc và 11.700.000đ tiền lãi của 39 ngày vay, số tiền lãi theo quy định là 2.136.986đ; tiền thu lợi bất chính là 9.563.014₫.
Lần thứ 3: Ngày 02/4/2023, T cho Ú vay số tiền 260.000.000đ với lãi suất 3.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 12/4/2023, Ú đã trả 260.000.000đ tiền gốc và
7.800.000đ tiền lãi của 10 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 1.424.658đ; tiền thu lợi bất chính là 6.375.342d.
Lần thứ 4: Ngày 13/4/2023, T cho Ú vay số tiền 260.000.000₫ với lãi suất 3.000đ/01 triệu/01 ngày. Tại thời điểm vay, do Ú còn nợ lại 40.000.000đ của lần vay thứ 3 nên Ú viết giấy vay tiền với nội dung vay của T số tiền 300.000.000đ. Đến ngày 09/5/2023, Ú đã trả T 260.000.000đ tiền gốc, 21.060.000đ tiền lãi của 27 ngày vay và 40.000.000đ tiền nợ lại của lần vay thứ 3. Số tiền lãi theo quy định là 3.846.575đ; tiền thu lợi bất chính là 17.213.425₫.
Lần thứ 5: Ngày 20/4/2023, T cho Ú vay số tiền 110.000.000đ với lãi suất 4.000đ/01 triệu/01 ngày (tương đương 146%/năm). Đến ngày 29/5/2023, Ú đã trả số tiền 110.000.000đ tiền gốc và 17.600.000đ tiền lãi của 40 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 2.410.959đ; tiền thu lợi bất chính là 15.189.041₫.
Lần thứ 6: Ngày 01/5/2023, T cho Ú vay số tiền 10.000.000đ với lãi suất 3.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 09/5/2023, Ú đã trả 10.000.000đ tiền gốc và 150.000đ tiền lãi của 05 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 27.397đ; tiền thu lợi bất chính là 122.063₫.
Lần thứ 7: Ngày 10/5/2023, T cho Ú vay số tiền 250.000.000₫ với lãi suất 6.000đ/01 triệu/01 ngày (tương đương 219%/năm). Tại thời điểm vay, do Ú còn nợ 110.000.000₫ của lần vay thứ 5 nên Ú viết giấy vay tiền với nội dung vay của T số tiền 360.000.000đ. Đến ngày 17/5/2023, Ú đã trả 250.000.000đ tiền gốc và 12.000.000đ tiền lãi của 08 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 1.095.890đ; tiền thu lợi bất chính là 10.904.110đ.
Lần thứ 8: Ngày 18/5/2023, T cho Ú vay số tiền 270.000.000đ (trong đó có 170.000.000đ tiền riêng của Nguyễn Thị Thùy T1) với lãi suất 4.000đ/01 triệu/01 ngày. Tại thời điểm vay, do còn nợ 110.000.000đ của lần vay thứ 5 nên Ú viết giấy vay tiền với nội dung vay của T số tiền 380.000.000đ). Đến ngày 29/5/2023, Ú đã trả 270.000.000đ tiền gốc và 12.960.000đ tiền lãi của 12 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 1.775.342đ; tiền thu lợi bất chính là 10.904.110đ.
Lần thứ 9: Ngày 26/5/2023, T cho Ú vay số tiền 50.000.000đ, với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày (tương đương 1.460%/năm). Cùng ngày, Ú đã trả 50.000.000₫ tiền gốc và 2.000.000đ tiền lãi của 01 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 27.397₫; tiền thu lợi bất chính là 1.972.603₫.
Lần thứ 10: Ngày 27/5/2023, T cho Ú vay số tiền 50.000.000đ với lãi suất 60.000đ/01 triệu/01 ngày (tương đương 2.190%/năm). Cùng ngày, Ú đã trả 50.000.000₫ tiền gốc và 3.000.000đ tiền lãi của 01 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 27.397₫; tiền thu lợi bất chính là 2.972.603₫.
Lần thứ 11 : Ngày 30/5/2023, T cho Ú vay số tiền 300.000.000đ (trong đó có 120.000.000₫ là tiền của Nguyễn Thị Thùy T1) với lãi suất 4.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 09/6/2023, Ú đã trả 300.000.000đ tiền gốc và 13.200.000đ tiền lãi của 11 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 1.808.219đ; tiền thu lợi bất chính là 11.391.781đ.
Lần thứ 12: Ngày 31/5/2023, T cho Ú vay số tiền 50.000.000đ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Cùng ngày, Ú đã trả 50.000.000đ tiền gốc và 2.000.000đ tiền
lãi của 01 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 27.397đ; tiền thu lợi bất chính là 1.972.603₫.
Lần thứ 13: Ngày 02/6/2023, T cho Ú vay số tiền 100.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Cùng ngày, Ú đã trả cho T 100.000.000đ tiền gốc và 4.000.000đ tiền lãi của 01 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 54.795đ; tiền thu lợi bất chính là 3.945.205₫.
Lần thứ 14: Ngày 03/6/2023, T cho Ú vay số tiền 160.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Cùng ngày, Ú đã trả cho T 160.000.000đ tiền gốc và 6.400.000đ tiền lãi của 01 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 87.671đ; tiền thu lợi bất chính là 6.312.329₫.
Lần thứ 15: Ngày 05/6/2023, T cho Ú vay số tiền 100.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Cùng ngày, Ú đã trả 100.000.000đ tiền gốc và 4.000.000₫ tiền lãi của 01 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 54.795đ; tiền thu lợi bất chính là 3.945.205₫.
Lần thứ 16: Ngày 05/6/2023, T cho Ú vay số tiền 220.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Cùng ngày, Ú đã trả 220.000.000đ tiền gốc và 8.800.000₫ tiền lãi của 01 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 120.548đ; tiền thu lợi bất chính là 8.679.452₫.
Lần thứ 17: Ngày 05/6/2023, T cho Ú vay số tiền 220.000.000đ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 06/6/2023, Ú đã trả 220.000.000đ tiền gốc và 17.600.000đ tiền lãi của 02 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 241.096đ; tiền thu lợi bất chính là 17.358.904₫.
Lần thứ 18: Ngày 07/6/2023, T cho Ú vay số tiền 250.000.000đ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Cùng ngày, Ú đã trả 250.000.000đ tiền gốc và 10.000.000₫ tiền lãi của 01 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 136.986đ; tiền thu lợi bất chính là 9.863.014₫.
Lần thứ 19: Ngày 08/6/2023, T cho Ú vay số tiền 250.000.000₫ (trong đó có 75.000.000đ là tiền của Nguyễn Thị Thùy T1) với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 09/6/2023, Ú đã trả 250.000.000đ tiền gốc và 20.000.000đ tiền lãi của 02 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 273.973đ; tiền thu lợi bất chính là 19.726.027₫.
Lần thứ 20: Ngày 09/6/2023, T cho Ú vay số tiền 330.000.000₫ (trong đó có 125.000.000₫ là tiền của Nguyễn Thị Thùy T1) với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 13/6/2023, Ú đã trả 330.000.000đ tiền gốc và 66.000.000đ tiền lãi của 05 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 904.110đ; tiền thu lời bất chính là 65.095.890đ.
Lần thứ 21: Ngày 10/6/2023, T cho Ú vay số tiền 260.000.000₫ (trong đó có 75.000.000đ là tiền của Nguyễn Thị Thùy T1) với lãi suất 25.000đ/01 triệu/01 ngày (tương đương 912,5%/năm). Cùng ngày, Ú đã trả 260.000.000đ tiền gốc và 13.000.000₫ tiền lãi của 02 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 284.932đ; tiền thu lợi bất chính là 12.715.068₫.
Lần thứ 22: Ngày 11/6/2023, T cho Ú vay số tiền 170.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 13/6/2023, Ú đã trả 170.000.000đ tiền gốc và 27.200.000đ tiền lãi của 04 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 372.603đ; tiền thu lợi bất chính là 26.827.397₫.
Lần thứ 23 : Ngày 13/6/2023, T cho Ú vay số tiền 590.000.000đ (trong đó có 250.000.000₫ là tiền của Nguyễn Thị Thùy T1) nhưng thực tế Ú chỉ nhận được 573.600.000đ, do Ú và T thoả thuận và thống nhất trừ 16.400.000đ tiền lãi Ú còn nợ lãi của các lần vay trước vào số tiền vay. Tại lần vay này Ú có viết một giấy vay tiền với nội dung vay của T số tiền 590.000.000₫) với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 16/6/2023, Ú đã trả 590.000.000đ tiền gốc và 47.200.000đ tiền lãi của 02 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 646.575đ; tiền thu lợi bất chính là 46.553.425đ.
Lần thứ 24: Ngày 13/6/2023, T cho Ú vay số tiền 50.000.000đ với lãi suất 60.000đ/01 triệu/01 ngày. Cùng ngày, Ú đã trả 50.000.000đ tiền gốc và 3.000.000đ tiền lãi của 01 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 27.397đ; tiền thu lợi bất chính là 2.972.603₫.
Lần thứ 25: Ngày 15/6/2023, T cho Ú vay số tiền 200.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 16/6/2023, Ú đã trả 200.000.000đ tiền gốc và 16.000.000đ tiền lãi của 02 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 219.178đ; tiền thu lợi bất chính là 15.780.822₫.
Lần thứ 26: Ngày 16/6/2023, T cho Ú vay số tiền 70.000.000₫ (trong đó có 50.000.000₫ là tiền của Nguyễn Thị Thùy T1) với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Cùng ngày, Ú đã trả 70.000.000₫ tiền gốc và 2.800.000đ tiền lãi của 01 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 38.356đ; tiền thu lợi bất chính là 2.761.644đ.
Lần thứ 27: Ngày 16/6/2023, T cho Ú vay số tiền 350.000.000đ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 19/6/2023, Ú đã trả 350.000.000đ tiền gốc và 56.000.000đ tiền lãi của 04 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 767.123đ; tiền thu lời bất chính là 55.232.877d.
Lần thứ 28: Ngày 16/6/2023, T cho Ú vay số tiền 250.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 20/6/2023 Ú đã trả 250.000.000đ tiền gốc và 40.000.000đ tiền lãi của 04 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 547.945đ; tiền thu lời bất chính là 39.452.055₫.
Lần thứ 29: Ngày 16/6/2023, T cho Ú vay số tiền 330.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 18/6/2023, Ú đã trả 330.000.000đ tiền gốc và 39.600.000đ tiền lãi của 03 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 542.466đ; tiền thu lời bất chính là 39.057.534₫.
Lần thứ 30: Ngày 19/6/2023, T cho Ú vay số tiền 380.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 20/6/2023, Ú đã trả 380.000.000đ tiền gốc và 30.400.000đ tiền lãi của 02 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 416.438đ; tiền thu lời bất chính là 29.983.562₫.
Lần thứ 31: Ngày 20/6/2023, T cho Ú vay số tiền 400.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 21/6/2023, Ú đã trả 400.000.000đ tiền gốc và 32.000.000đ tiền lãi của 02 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 438.356đ; tiền thu lời bất chính là 31.561.644₫.
Lần thứ 32: Ngày 21/6/2023, T cho Ú vay số tiền 400.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 28/6/2023, Ú đã trả 400.000.000đ tiền gốc và 112.000.000đ tiền lãi của 07 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 1.534.247đ; tiền thu lời bất chính là 110.465.753₫.
Lần thứ 33: Ngày 21/6/2023, T cho Ú vay số tiền 100.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 28/6/2023, Ú đã trả 100.000.000đ tiền gốc và 28.000.000đ tiền lãi của 07 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 383.562đ; tiền thu lời bất chính là 27.616.438₫.
Lần thứ 34: Ngày 23/6/2023, T cho Ú vay số tiền 200.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Cùng ngày, Ú đã trả 200.000.000đ tiền gốc và 8.000.000₫ tiền lãi của 01 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 109.589đ; tiền thu lời bất chính là 7.890.411₫.
Lần thứ 35: Ngày 24/6/2023, T cho Ú vay số tiền 300.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 30/6/2023, Ú đã trả 300.000.000đ tiền gốc và 48.000.000đ tiền lãi của 04 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 657.534đ; tiền thu lời bất chính là 47.342.466₫.
Lần thứ 36: Ngày 25/6/2023, T cho Ú vay số tiền 200.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 27/6/2023 Ú đã trả 200.000.000đ tiền gốc và 24.000.000đ tiền lãi của 03 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 328.767đ; tiền thu lời bất chính là 23.671.233₫.
Lần thứ 37: Ngày 26/6/2023, T cho Ú vay số tiền 200.000.000₫ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 28/6/2023, Ú đã trả 200.000.000đ tiền gốc và 16.000.000đ tiền lãi của 02 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 219.178đ; tiền thu lời bất chính là 15.780.822₫.
Lần thứ 38: Ngày 28/6/2023, T cho Ú vay số tiền 300.000.000đ với lãi 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 30/6/2023, Ú đã trả 300.000.000đ tiền gốc và 36.000.000đ tiền lãi 03 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 493.151đ; tiền thu lời bất chính là 35.506.849₫.
Lần thứ 39: Ngày 28/6/2023, T cho Ú vay số tiền 200.000.000đ với lãi 50.000đ/01 triệu/01 ngày (tương đương 1.825%/năm). Đến ngày 29/6/2023, Ú đã trả 200.000.000₫ tiền gốc và 20.000.000đ tiền lãi của 02 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 219.178đ; tiền thu lời bất chính là 19.780.822d.
Lần thứ 40: Ngày 30/6/2023, T cho Ú vay số tiền 100.000.000đ với lãi 50.000đ/01 triệu/01 ngày. Cùng ngày, Ú đã trả 100.000.000đ tiền gốc và 5.000.000đ tiền lãi của 01 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 54.795đ; tiền thu lời bất chính là 4.945.205₫.
Lần thứ 41: Ngày 30/6/2023, T cho Ú vay số tiền 100.000.000₫ với lãi 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Cùng ngày, Ú đã trả 100.000.000đ tiền gốc và 4.000.000đ tiền lãi của 01 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 54.795đ; tiền thu lời bất chính là 3.945.205₫.
Lần thứ 42: Ngày 30/6/2023, T cho Ú vay số tiền 100.000.000đ với lãi 40.000đ/01 triệu/01 ngày, thời hạn vay là 01 ngày, tương đương 1.460%/năm. Cùng ngày U đã trả 100.000.000đ tiền gốc và 4.000.000đ tiền lãi của 01 ngày vay. Số tiền lãi được thu theo quy định là 54.795đ, số tiền thu lời bất chính là 3.945.205₫.
* Các lần vay chưa trả đủ tiền gốc và tiền lãi.
Lần thứ 1: Ngày 20/6/2023, T cho Ú vay 02 lần với tổng số tiền 650.000.000₫ (một lần cho vay 260.000.000đ, một lần cho vay 390.000.000đ), lãi suất thỏa thuận là 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 29/6/2023, Ú đã trả 50.000.000đ tiền gốc và
208.000.000đ tiền lãi của 08 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 2.849.315đ; tiền thu lời bất chính là 205.150.685₫. Ú còn nợ lại 600.000.000 tiền gốc.
Cùng ngày, Ú và T thống nhất tính lại từ đầu số tiền vay 600.000.000đ Ú còn nợ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến nay Ú chưa trả số tiền gốc cho T.
Lần thứ 2: Ngày 28/6/2023, T cho Ú vay số tiền 300.000.000đ, lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 01/7/2023, Ú đã trả số tiền lãi 48.000.000đ của 04 ngày vay. Số tiền lãi theo quy định là 657.534đ; tiền thu lời bất chính là 47.342.466đ. Đến nay, số tiền gốc 300.000.000₫ Ú chưa trả cho T.
Lần thứ 3: Ngày 29/6/2023, T cho Ú vay số tiền 300.000.000đ với lãi suất 50.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 01/7/2023, Ú đã trả 45.000.000đ tiền lãi của 03 ngày vay và trả 96.000.000đ tiền gốc. Số tiền lãi theo quy định là 493.151đ; tiền thu lời bất chính là 44.506.849đ. Số tiền gốc còn lại là 204.000.000₫ Ú chưa trả cho T.
Lần thứ 4: Ngày 30/6/2023, T cho Ú vay số tiền 600.000.000đ với lãi suất 40.000đ/01 triệu/01 ngày. Đến ngày 01/7/2023, Ú đã trả 48.000.000đ tiền lãi của 02 ngày vay, số tiền lãi theo quy định là 657.534đ; tiền thu lời bất chính là 47.342.466đ. Số tiền nợ gốc 600.000.000₫ đến nay Ú chưa trả cho T.
Bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 20/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Ánh T và Nguyễn Thị Thùy T1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận về hành vi của mình phù hợp như nội dung kết luận điều tra và bản cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- + Xử phạt: Nguyễn Thị Ánh T từ 350.000.000đ đến 400.000.000đ.
- + Xử phạt: Nguyễn Thị Thùy T1 từ 200.000.000đ đến 250.000.000₫.
- - Về trách nhiệm dân sự:
- + Đề nghị truy thu của bị cáo T 384.331.000₫ tiền gốc và của bị cáo T1 247.500.000đ tiền gốc sung công quỹ Nhà nước; truy thu của bị cáo T 28.123.286đ và của bị cáo T1 2.742.467đ là khoản tiền lãi theo quy định của pháp luật sung công quỹ Nhà nước.
- + Đề nghị truy thu của chị Hồ Thị Ú số tiền gốc vay của bị cáo T nhưng chưa trả là 1.704.000.000₫ sung công quỹ Nhà nước.
- + Đề nghị buộc bị cáo T phải trả cho chị Hồ Thị Ú 1.109.676.714đ; bị cáo T1 phải trả cho chị Hồ Thị Ú 68.127.533đ là tiền lãi thu lợi bất chính.
- - Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu sung công tổng số tiền 17.669.000đ thu giữ của các bị cáo.
- + Tịch thu sung công 04 chiếc điện thoại di động đã thu giữ của các bị cáo là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.
Các bị cáo không tham gia tranh luận, chỉ đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện K và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Thị Ánh T và Nguyễn Thị Thùy T1 tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Xét hành vi của các bị cáo trong quãng thời gian từ tháng 3/2023 đến tháng 6/2023 đã nhiều lần cho chị Hồ Thị Ú vay lãi nặng, với mức lãi suất từ 109,5%/năm đến 2.190%/năm, cao gấp từ 5,4 lần đến 109,5 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự để thu lợi bất chính. Tính đến ngày bị cơ quan điều tra phát hiện xử lý (ngày 10/11/2023), các bị cáo đã sử dụng số tiền 10.490.000.000đ cho chị Hồ Thị Ú vay nhiều lần, thu lợi bất chính số tiền 1.177.804.247đ. Trong đó, có 13 lần vay, số tiền thu lợi bất chính của từng lần trên 30.000.000đ. Hành vi của các bị cáo phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.
* Tại Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:
- Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
- Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- 3....
[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo không những đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được rằng hành vi cho vay lãi nặng vượt quá mức quy định của Bộ luật dân sự bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do ý thức coi thường pháp luật và vì động cơ vụ lợi nên trong quãng thời gian từ tháng 3/2023 đến tháng 6/2023, các bị cáo nhiều lần cho chị Hồ Thị Ú vay tiền với lãi suất cao gấp nhiều lần so với quy định của Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính lớn. Cho nên đối với các bị cáo cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, có như vậy mới phát huy được tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Trong vụ án này có 02 bị cáo, vai trò và mức độ phạm tội khác nhau nên cần phân hóa để áp dụng mức hình phạt cho phù hợp. Đối với Nguyễn Thị Ánh T là người trực tiếp giao dịch, thỏa thuận mức lãi suất cho chị Ú vay và nguồn tiền cho vay cũng như tiền thu lợi bất chính chủ yếu là của bị cáo nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn. Đối với Nguyễn Thị Thùy T1, ngoài việc giúp sức cho bị cáo Tuyết toán lãi suất và sử dụng tài khoản ngân hàng của mình để giúp cho bị cáo T chuyển, nhận tiền cho vay và tiền lãi với chị Ú, T1 còn góp với T số tiền 865.000.000đ để cho chị Ú vay lãi suất cao, trực tiếp thu lợi bất chính số tiền 68.127.533đ. Cho nên đối với bị cáo, cũng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, nhưng thấp hơn so với bị cáo T.
[5] Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; các bị cáo đã tự nguyện nộp lại một phần tiền thu lợi bất chính. Bị cáo T1 khi phạm tội và đến thời điểm xét xử đang có thai; bị cáo T bị bệnh trầm cảm, rối loạn cảm xúc lưỡng cực theo kết luận của Bệnh viện tâm thần thành phố H. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét trong quá trình lượng hình để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước. Xét thấy các bị cáo phạm tội không mang tính chất chuyên nghiệp, không phải dưới hình thức băng, ổ nhóm nên có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, vận dụng nguyên tắc xử lý tại Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để áp dụng nghiêm khắc hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ của vụ án:
- [6.1] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát chỉ đề nghị truy thu của bị cáo T 384.831.000đ; truy thu của bị cáo T1 247.500.000₫ là khoản tiền gốc của một lần (nhiều nhất) các bị cáo sử dụng để cho chị Hồ Thị Ú vay lấy lãi, thấy rằng: Sau khi thống nhất cho chị Ú vay tiền với lãi suất cao để thu lợi bất chính, bị cáo T và T1 đã cho vay nhiều lần với nhiều khoản vay khác nhau. Từng lần vay này đều độc lập, đã thu lãi và đều đã hoàn thành. Sau đó, các bị cáo tiếp tục xoay vòng, dùng tiền gốc và lãi cho vay đã thu được để cho chị Ú vay tiếp bằng những khoản vay độc lập. Tính đến thời điểm bị phát hiện, tổng số tiền gốc các bị cáo cho vay xoay vòng và chị Ú đã trả lại là 8.786.000.000đ (trong đó, của bị cáo T là 7.921.000.000đ; của bị cáo T1 là 865.000.000₫) nên cần truy thu toàn bộ số tiền này sung công quỹ Nhà nước.
- [6.2] Đối với số tiền lãi theo quy định (mức 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự) các bị cáo đã thu của chị Hồ Thị Ú là 30.865.753đ (trong đó, bị cáo T nhận 28.123.286đ; bị cáo T1 nhận 2.742.467đ) cần truy thu sung công quỹ Nhà nước.
- [6.3] Đối với khoản tiền lãi thu lợi bất chính (vượt quá mức 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự) là 1.177.804.247đ (trong đó, bị cáo T thu lợi 1.109.676.714đ; bị cáo T1 thu lợi 68.127.533đ), cần buộc các bị cáo trả lại cho chị Hồ Thị Ú.
- [6.4] Đối với số tiền gốc chị Hồ Thị Ú vay của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T với lãi suất cao nhưng chưa trả là 1.704.000.000đ cần truy thu của chị Ú sung công quỹ Nhà nước.
- [6.5] Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo T 03 điện thoại di động (gồm có 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A01 màu đen (kèm 01 sim điện thoại); 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng (kèm 01 sim điện thoại); 01 điện thoại Iphone 14 Plus màu đỏ) và thu giữ của bị cáo T1 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh ngọc. Đây là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- [6.6] Đối với số tiền 12.669.000₫ thu giữ của bị cáo T và số tiền 5.000.000₫ do các bị cáo giao nộp (bị cáo T nộp 2.500.000đ; bị cáo Trang N1 2.500.000đ) cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Ánh T và Nguyễn Thị Thùy T1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- - Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- 1. Xử phạt Nguyễn Thị Ánh T 350.000.000đ (ba trăm năm mươi triệu đồng).
- - Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- 2. Xử phạt Nguyễn Thị Thùy T1 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng).
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 04 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo, gồm: 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A01 màu đen (kèm 01 sim điện thoại); 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng (kèm 01 sim điện thoại); 01 điện thoại Iphone 14 Plus màu đỏ và 01 điện thoại hiệu Iphone 12 màu xanh ngọc.
- (Đặc điểm, số lượng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Thi hành án dân sự huyện K).
- - Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T số tiền 15.169.000đ và của bị cáo Nguyễn Thị Thùy T1 2.500.000đ để đảm bảo thi hành án.
- (Theo biên lai thu tiền số 60AA/2021/0006485 ngày 26/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Năng).
- - Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T 7.949.123.286đ tiền sử dụng vào việc phạm tội và thu lợi bất chính sung công quỹ Nhà nước.
- - Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị Thùy T1 867.769.467đ tiền sử dụng vào việc phạm tội và thu lợi bất chính sung công quỹ Nhà nước.
- - Truy thu của chị Hồ Thị Ú 1.704.000.000₫ sung công quỹ Nhà nước.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ánh T phải trả cho chị Hồ Thị Ú 1.109.676.714đ tiền thu lợi bất chính.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thùy T1 phải trả cho chị Hồ Thị Ú 68.127.533đ tiền thu lợi bất chính.
- * Về án phí:
Các bị cáo Nguyễn Thị Ánh T và Nguyễn Thị Thùy T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Hán |
Bản án số 35/2024/HSST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự: cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 35/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ánh T và Nguyễn Thị Thùy Tr cho Hồ Thị U vay lãi nặng
