TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH HÒA BÌNH Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày 21-5-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Minh Thêu |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Ngô Quang Hậu |
| Ông Nguyễn Đăng Tuyến |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Trường Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa:
Ông Vi Văn Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Văn T, sinh ngày 27 tháng 9 năm 2001 tại L - Hòa Bình.
Nơi cư trú: thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1, sinh năm 1973, con bà Bùi Thị T2, sinh năm 1979; Bị cáo chưa có vợ con. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 04 chị em.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Anh Bạch Công T3, sinh năm 2003 (đã chết)
Đại diện hợp pháp của người bị hại T3: Bà Bùi Thị H, sinh năm 1978 (mẹ đẻ); trú tại: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
+ Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 2001 (đã chết)
Đại diện hợp pháp của người bị hại H1: Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1986 (anh ruột); trú tại: thôn Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/02/2024 tại nhà của Bùi Văn T, sinh năm 2001 thuộc thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình gồm có: Bùi Văn T, Bùi Văn N, sinh năm 2006 và Quách Văn T4, sinh năm 2002 đều là người cùng xã có ngồi ăn cơm, uống rượu với nhau. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T4 rủ T và N đến quán Ố thuộc thôn Q, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình để ăn ốc uống rượu tiếp. Sau đó T điều khiển xe mô tô BKS 28G1-350.56 là xe của T chở T4 đến quán trước rồi quay lại đón N, cả ba người gọi hoa quả, ốc và hai chai rượu mơ loại 500ml để cùng ngồi ăn ốc và uống rượu với nhau. Ăn được khoảng một lúc thì T có gọi điện cho Bùi Duy T5, sinh năm 2000; trú tại: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình đến uống rượu cùng. Một lúc sau thì T5 điều khiển xe mô tô dạng xe Wave chở Bạch Công T3, sinh năm 2003 ở cùng thôn với T5 đi đến quán và ngồi vào cùng bàn với T, N và T4. Sau đó cả nhóm 5 người ngồi nói chuyện và tiếp tục uống rượu với nhau, trong lúc nói chuyện T có nghe T3 nói lại là trước đó T3 đã uống rượu tất niên với bạn rồi mới đi cùng T5 đến quán ốc. Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, T3 có hỏi mượn xe mô tô của T5 để đi đón bạn nhưng do xe hết xăng nên T5 không cho mượn. Thấy vậy, T3 quay lại hỏi mượn xe của T thì T đồng ý. Tuy T biết rõ T3 đã uống rượu không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, nhưng do nể nang là anh em bạn bè và cũng không lường trước được hậu quả nên T đã lấy chìa khóa xe đưa cho T3 rồi chỉ tay và chiếc xe mô tô BKS: 28G1-350.56 dựng trước cửa quán. Sau khi được T đồng ý cho mượn xe, T3 lấy xe mô tô BKS : 28G1-350.56 và điều khiển đi đường QL21B theo hướng Đồi Sim đi X mà không đội mũ bảo hiểm. Khi đi đến Km 450+600 đường H thuộc thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình thì Bạch Công T3 do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, đi sai làn đường nên đã điều khiển xe mô tô BKS: 28G1-350.56 đâm vào xe mô tô BKS 29E1-647.93 do Nguyễn Văn H1, sinh năm 2001, trú tại: thôn Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình điều khiển đi hướng ngược chiều. Hậu quả: Bạch Công T3 và Nguyễn Văn H1 chết tại chỗ, hư hỏng 02 xe mô tô.
Sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan CSĐT Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình phối hợp với các ngành chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và khám phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông. Hiện trường xảy ra tai nạn là đường H thuộc thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Tại Bản kết luận giám định số 23 và 24 ngày 16/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Bạch Công T3 và Nguyễn Văn H1 chết do chấn thương sọ não.
Tại bản kết luận số: 1038/KL-KTHS ngày 07/2/2024 và số 1035/KL-KTHS ngày 04/3/2024 của V - Bộ C1 kết luận:
- Trong mẫu máu ghi thu được của nạn nhân Bạch Công T3 gửi giám định có tìm thấy ethanol (cồn), nồng độ ethanol là 90mg/100ml máu.
- Trong mẫu máu ghi thu được của nạn nhân Nguyễn Văn H1 gửi giám định có tìm thấy ethanol (cồn), nồng độ ethanol là 631mg/100ml máu.
- Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Bạch Công T3 và Nguyễn Văn H1 gửi giám định.
Tại bản kết luận số: 119/K1-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Phát hiện dấu vết không liên tục của hình ảnh, tuy nhiên không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video gửi giám định.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 xe mô tô BKS: 28G1-350.56 nhãn hiệu Honda Wave; 01 xe mô tô BKS: 29E1-647.93 nhãn hiệu Honda Airblade; 01 USB màu trắng.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình nạn nhân Bạch Công T3 và Nguyễn Văn H1 không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên không đề cập.
Cáo trạng số 31/CT-VKSLS ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố Bùi Văn T về: Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo khoản 2 Điều 264 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 264; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét.
Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.
Bị cáo Bùi Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và chăm sóc gia đình.
Đại diện bị hại xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và quá trình thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, đại diện bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Bùi Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, khám nghiệm dấu vết phương tiện, các kết luận giám định và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 45 phút tại quán Ô thuộc thôn Q, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình, Bùi Văn T mặc dù biết rõ Bạch Công T3 đã uống rượu, đang trong trạng thái không tỉnh táo, không đủ điều kiện để điều khiển phương tiện giao thông nhưng bị cáo vẫn giao xe mô tô BKS: 28G1-350.56 là xe của mình cho Bạch Công T3 mượn. Bạch Công T3 điều khiển xe mô tô của T không đội mũ bảo hiểm đi đến Km 450+600 đường H thuộc thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ đi sai làn đường đã đâm vào xe mô tô BKS: 29E1-647.93 do anh Nguyễn Văn H1 điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả Bạch Công T3 và Nguyễn Văn H1 chết tại chỗ, hư hỏng 02 xe mô tô.
Bị cáo giao xe mô tô của mình cho Bạch Công T3 đang trong tình trạng say rượu. Anh T3 điều khiển xe gây tai nạn hậu quả chết 02 người là tình tiết định khung được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 264 Bộ luật hình sự. Do vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện L, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo về tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 264 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo:
Bùi Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc giao xe cho anh Bạch Công T3 khi anh T3 đã sử dụng rượu bia, có biểu hiện không tỉnh táo là hành vi nguy hiểm, vi phạm pháp luật, song vì nể nang, thiếu hiểu biết, không lường trước được hậu quả bị cáo vẫn thực hiện hành vi. Hậu quả anh T3 điều khiển xe gây tai nạn làm anh T3 và anh H1 chết tại chỗ, hư hỏng hai xe mô tô. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông, gây thiệt hại về tính mạng, tài sản làm mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp vi phạm khoản 10 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2018 quy định “Giao xe cơ giới, xe máy chuyên dùng cho người không đủ điều kiện để điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ”. Do vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi bị cáo thực hiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân ngũ; đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; gia đình bị cáo là hộ đặc biệt khó khăn ở địa phương; bị cáo phạm tội là có một phần lỗi của bị hại... đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng; bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, luôn chấp hành tốt các chính sách tại địa phương nơi cư trú. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý cũng cải tạo được bị cáo, việc cho bị cáo được hưởng án treo không trái với quy định tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo việc cho bị cáo hưởng án treo không trái với Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước và pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 264 Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- Đại diện gia đình các bị hại không yêu cầu gì bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tính mạng và tài sản bị hư hỏng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Các vấn đề khác của vụ án:
- Đối với Bạch Công T3 là người điều khiển xe mô tô BKS 28G1-350.56 gây tai nạn, hậu quả Bạch Công T3 và Nguyễn Văn H1 chết hư hỏng 02 xe mô tô. Hành vi của Bạch Công T3 đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9; khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2018; khoản 6 Điều 5 Luật Phòng chống tác hại của rượu bia năm 2019. Tuy nhiên Bạch Công T3 đã chết nên căn cứ khoản 7 Điều 157 Bộ luật Tố tụng Hình sự không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Bạch Công T3 đối với vụ tai nạn giao thông nói trên.
- Đối với việc Bạch Công T3 chưa có giấy phép lái xe. Quá trình giao xe cho T3 bị cáo T không biết T3 chưa có giấy phép lái xe nên không có căn cứ xem xét xử lý hành vi này.
[8] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với xe mô tô BKS 29E1-647.93 nhãn hiệu Honda Airblade đã được trả lại cho chị Từ Thị H3 (vợ bị hại Nguyễn Văn H1) theo Quyết định xử lý vật chứng số 364 ngày 08/4/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
- Đối với xe mô tô BKS 28G1-350.56 nhãn hiệu Honda Wave là xe của bị cáo Bùi Văn T. Xét bị cáo không phải là người trực tiếp điều khiển xe tham gia giao thông gây tai nạn nên cần trả lại cho bị cáo.
- 01 USB chứa 01 đoạn video dài 11 phút 39 giây do anh Nguyễn Thanh C, sinh năm 1993; trú tại: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình giao nộp cho Cơ quan điều tra. Xét đây là tài liệu điều tra nên tiếp tục được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[8] Về án phí: Bị cáo Bùi Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội: Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 264; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Bùi Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo: 01(Một) xe mô tô BKS 28G1-350.56 nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc (xe cũ đã qua sử dụng, hư hỏng do tai nạn giao thông).
(Chi tiết vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.)
3. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Thêu |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Trần Ánh Hồng | Nguyễn Đăng Tuyến | Trần Minh Thêu |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH về tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Tuyến 264
