Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC CƠ

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày 21/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hùng Hưng;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Khả Hòa; nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu.
  2. Ông Nguyễn Đình Dược; nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.

Thư ký phiên toà: Ông Phùng Lê Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Diệp - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/HSST ngày 19/4/2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Rơ Châm L, sinh ngày 30/4/2007 tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai;

Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Làng B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ksor N (đã chết) và bà Rơ Châm H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Hoàng Kim L1, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh G (Có mặt);

- Đại diện gia đình bị cáo: Bà Rơ Châm H1 (mẹ của bị cáo L), địa chỉ: Làng B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (Có mặt);

- Bị hại: Bà Bùi Thị Bé C, địa chỉ: Làng B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (Có mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Đình T, địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (Có đơn vắng mặt);
  2. Ông Trần Minh N1 và bà Nguyễn Thị M, cùng địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (Đều có đơn vắng mặt);

- Người phiên dịch tiếng Jrai: Bà Nay Bun R, địa chỉ: Làng H, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ ngày 13/12/2023, Rơ Châm L đi qua nhà bà Bùi Thị Bé C (tại Làng B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai), L thấy cửa nhà không đóng nên đã lén lút đột nhập vào trong nhà thấy mọi người đã ngủ, L phát hiện chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7 Plus đang sạc pin ở phòng khách. L lấy điện thoại bỏ vào túi quần và đi ra phía sau bếp phát hiện chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, loại A11 đang sạc pin để trên kệ bếp, L lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần. Sau đó, L đi vào phòng ngủ và phát hiện trong một chiếc túi áo treo trên tường có 3.500.000 đồng chiếm đoạt luôn số tiền này.

Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, L lấy 300.000 đồng trả nợ cho bà Rơ Mah H2 (chị dâu của L), số tiền còn lại L tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 12 giờ ngày 14/12/2023, L đón xe khách từ xã I xuống thị trấn C, huyện Đ chơi. Sau đó L mang chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7 Plus bán cho tiệm Đ (Thuộc tổ dân phố B, thị trấn C, huyện Đ) do ông Trần Đình T làm chủ với giá 500.000 đồng và đem chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, loại A11 bán cho cửa hàng Đ1 (Thuộc tổ dân phố B, thị trấn C, huyện Đ) do ông Trần Minh N1 làm chủ với giá 720.000 đồng để lấy tiền tiêu xài. Bà Nguyễn Thị M (vợ ông N1) đã bán chiếc điện thoại này cho vợ chồng người dân tộc Jrai. Số tiền trộm cắp và tiền bán điện thoại, L tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 18/12/2023, Rơ Châm L đã đến Công an xã I đầu thú.

Kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐ ngày 29/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7 Plus, màu vàng Gold, trị giá là 1.500.000 đồng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, loại A11, màu đen, trị giá là 1.800.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 28/CT- VKS ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Rơ Châm L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng. Đề nghị tuyên bố bị cáo Rơ Châm L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 50, 90, 91, 98, khoản 1 Điều 101, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Rơ Châm L từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Tại phiên tòa, người bào chữa công nhận hành vi của bị cáo Rơ Châm L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo không có tài sản, đã thuyết phục gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người liên quan là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, sau khi phạm tội, bị cáo ra đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo hình phạt tù ở mức thấp của khung hình phạt và cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tính hợp pháp của tài liệu chứng cứ: Có cơ sở để nhận định các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

[3] Bị cáo thừa nhận có hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có căn cứ để nhận định:

Vào khoảng 01 giờ ngày 13/12/2023, Rơ Châm L đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà bà Bùi Thị Bé C trộm cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7 Plus có giá trị 1.500.000 đồng và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, loại A11 có giá trị 1.800.000 đồng cùng với số tiền 3.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà Rơ Châm L đã trộm cắp là 6.800.000 đồng.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý. Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực hành vi.

Hành vi của bị cáo Rơ Châm L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...”

Như vậy Cáo trạng số: 28/CT- VKS ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Thấy rằng, quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác đều phải được xử lý. Bị cáo Rơ Châm L đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại Bùi Thị Bé C. Hành vi này của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội cần được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo không có tài sản, đã thuyết phục gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người liên quan là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, sau khi phạm tội, bị cáo ra đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi phạm tội (Khi phạm tội, bị cáo 16 tuổi 7 tháng 14 ngày) nên khả năng nhận thức còn hạn chế. Khi quyết định hình phạt cần áp dụng các quy định của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, nguyên nhân phạm tội, khả năng nhận thức, điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, thấy rằng, bị cáo trộm cắp tài sản trị giá 6.800.000 đồng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ gồm: 03 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, là người chưa đủ 18 tuổi phạm tội.

Cần thiết xử phạt tù ở mức thấp và cho hưởng án treo là phù hợp với tính nhân đạo của pháp luật, với đạo đức xã hội. Giao bị cáo cho UBND xã I nơi bị cáo thường trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Xét không cần thiết phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[6] Đối với hành vi của những người liên quan:

  • Khi mua điện thoại do bị cáo mang bán, ông Trần Đình T và ông Trần Minh N1 không biết chiếc điện thoại di động mình mua là do Rơ Châm L trộm cắp mà có. Do đó, hành vi của ông T và ông N1 là không vi phạm pháp luật.
  • Bà Rơ Mah H2 hoàn toàn không biết số tiền 300.000 đồng mà Rơ Châm L trả nợ cho bà là do trộm cắp mà có. Sau khi biết được sự việc, bà đã trả lại cho bị cáo số tiền này. Do đó, hành vi của bà H2 là không vi phạm pháp luật.
  • Đối với vợ chồng người dân tộc J đã mua chiếc điện thoại Sam Sung A11: Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm người mua nhưng chưa có kết quả.

[7] Về xử lý vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật. Cụ thể: Trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7 Plus, màu vàng gold cho chủ sở hữu Bùi Thị Bé C.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Đến thời điểm phiên tòa sơ thẩm, gia đình bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người liên quan. Cụ thể, đã bồi thường cho bị hại Bùi Thị Bé C giá trị 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, loại A11, màu đen, trị giá 1.800.000 đồng và số tiền 3.500.000 đồng; bồi thường cho ông Trần Đình T 500.000 đồng tiền mua điện thoại. Bà C và ông T không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không giải quyết về trách nhiệm dân sự.

[9] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, cần miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Rơ Châm L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 50, 65, 90, 91, 98, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Rơ Châm L 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 21/5/2024).

Giao bị cáo Rơ Châm L cho UBND xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Rơ Châm L.

3. Các vấn đề khác: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo chưa đủ 18 tuổi, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo trình tự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Thời hạn kháng cáo của người có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, của người vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - VKS; CA;
  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người LQ;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu HSVA;
  • - Lưu THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lại Hùng Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger