|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST Ngày: 06/6/2025 V/v: Tranh chấp ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Việt Anh
Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Tạ Thị Thà
2. Bà Trần Thị Kim Dung
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quang - Thư ký Tòa án.
- Đại diện VKSND Q. Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm A – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025 Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 209/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa về việc “Ly hôn” giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lê Thu N – sinh năm 1993
CCCD số [...] cấp ngày 25/7/2022
HKKT: ô 25 lô 6 Khu D, phường H, quận H, Hà Nội.
Hiện ở tại: số C ngõ B đường T, quận H, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa)
* Bị đơn: Anh Nguyễn Đình D – sinh năm 1990
CCCD số [...] cấp ngày 08/12/2021
HKKT và chỗ ở: ô 25 lô 6 Khu D, phường H, quận H, Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, Bản tự khai và các văn bản tố tụng khác, nguyên đơn chị Lê Thu N trình bày:
1
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Nguyễn Đình D tìm hiểu và kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, quận H, thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 18/01/2018). Đây là lần kết hôn đầu tiên của chúng tôi trước đây chưa ai có vợ có chồng. Sau khi kết hôn chúng tôi sinh sống tại phường H, quận H, Hà Nội là nhà của mẹ chồng tôi.
Thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên đến khoảng tháng 3 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm và cách nhìn nhận cuộc sống nên tình cảm ngày càng phai nhạt. Mâu thuẫn của chúng tôi đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn nên chúng tôi đã sống ly thân một thời gian dù vẫn sống chung nhà. Nhưng sau đó hai vợ chồng cũng cố gắng nói chuyện, hàn gắn để vợ chồng hòa thuận nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vì vậy, tôi đã đi thuê nhà ở riêng từ cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 2025. Từ khi tôi ra ngoài ở riêng, anh D cũng không gọi điện, không có hành động gì để hàn gắn tình cảm. Tôi có gọi điện thì anh D không nghe, nhắn tin thì anh D chặn số nên tôi không nhắn được. Chỉ khi anh D chủ động gọi để con lớn của tôi nói chuyện với tôi và con thứ hai thì chúng tôi mới có liên lạc nhưng cũng không nói chuyện với nhau. Mâu thuẫn của chúng tôi lúc đầu chỉ là những mâu thuẫn nhỏ, nhưng tích tụ lâu ngày nên tình cảm ngày càng phai nhạt, không có khả năng hàn gắn. Đến nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Đình D.
- Về con chung: Chúng tôi có hai con chung là Nguyễn Đình P, sinh ngày 12/8/2018 và Nguyễn Đình T, sinh ngày 23/10/2021.
Ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Đình T do hiện nay cháu còn nhỏ. Anh Duy sẽ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nguyễn Đình P.
Về cấp dưỡng nuôi con: do mỗi người nuôi một con nên không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay, tôi đang làm nhân viên phân tích nghiệp vụ công nghệ thông tin tại Công ty TNHH P1; thu nhập 18.000.000/tháng. Tôi nộp cho Tòa án xác nhận lương của tôi.
Hiện nay, tôi và anh D không có thai chung.
- Về tài sản chung và nhà đất ở chung: Chúng tôi không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về các khoản nợ chung: Chúng tôi không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại Biên bản ghi lời khai và các văn bản tố tụng khác, bị đơn anh Nguyễn Đình D trình bày:
2
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và chị Lê Thu N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Đây là lần kết hôn đầu tiên của tôi và chị N. Sau khi kết hôn chúng tôi sống cùng với mẹ tôi tại địa chỉ ô B lô F Khu D, phường H, quận H, Hà Nội.
Vợ chồng tôi vẫn sống hạnh phúc và không có mâu thuẫn gì lớn mà chỉ thỉnh thoảng có những bất đồng nhỏ trong cuộc sống hàng ngày nhưng đã được giải quyết. Nay chị N xin ly hôn thì tôi không đồng ý vì tôi vẫn còn tình cảm và giữa hai vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, vẫn có khả năng hàn gắn, đoàn tụ và do con tôi còn bé nên tôi muốn các con có được sự chăm sóc của cả bố và mẹ.
Khoảng cuối tháng 2 đầu tháng 3 khi tôi đi làm về thì được biết chị N đã thu dọn đồ đạc và đưa con trai thứ hai của tôi là Nguyễn Đình T đi nơi khác ở. Tôi không biết hiện nay chị N và con tôi đang ở đâu. Sau khi chị N bỏ đi thì người nhà tôi có gọi điện hỏi lý do nhưng chị N không nói gì, khi gia đình tôi muốn chị N đưa cháu T về chơi với anh trai vào cuối tuần thì chị N không đồng ý. Con trai lớn của tôi đã dùng số điện thoại của tôi gọi điện cho chị N muốn chị N đưa em về chơi nhưng chị N không đồng ý mà chỉ muốn hai anh em gặp nhau ở một nơi khác.
- Về con chung: Chúng tôi có hai con chung là Nguyễn Đình P, sinh ngày 12/8/2018 và Nguyễn Đình T, sinh ngày 23/10/2021.
Trường hợp chị N kiên quyết xin ly hôn thì tôi đồng ý và tôi có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung vì nếu để chị N nuôi con thì tôi không yên tâm, sợ ảnh hưởng đến con vì chị N là người tin tưởng vào duy tâm.
Nếu được nuôi cả hai con thì tôi không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay tôi đang làm nhân viên văn phòng, thu nhập 9.000.000đ/tháng chưa tính các khoản thưởng. Nếu tính cả lương và thưởng thì thu nhập của tôi khoảng 15.000.000đ/tháng nên tôi đủ khả năng nuôi hai con. Ngoài ra tôi còn có mẹ để giúp chăm sóc các cháu.
Hiện nay tôi và chị N không có thai chung.
- Về tài sản chung và nhà đất ở chung: Chúng tôi không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về các khoản nợ chung: Chúng tôi không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án tiến hành xác minh mâu thuẫn của anh chị tại địa phương, tổ trưởng tổ dân phố cho biết: về mâu thuẫn giữa vợ chồng chị N và anh D anh chị tự giải quyết nội bộ, không thông báo cho chính quyền địa phương; tổ dân phố không tổ chức hòa giải. Nay chị N có đơn xin ly hôn anh D thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Lê Thu N vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Đình D. Chị vẫn giữ nguyên nguyện vọng xin được nuôi con chung
3
là Nguyễn Đình T, sinh ngày 23/10/2021 và anh D sẽ nuôi con chung là Nguyễn Đình P, sinh ngày 12/8/2018.
Do chị và anh D mỗi người nuôi một con nên không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nhà đất ở chung và công nợ chung: Chị N trình bày anh chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn, anh Nguyễn Đình D trình bày: Do chị N kiên quyết ly hôn, và sau khi Tòa án tiến hành hòa giải anh thấy mâu thuẫn của anh chị không có khả năng hàn gắn nên anh đồng ý ly hôn.
Anh và chị N có hai con chung là Nguyễn Đình P, sinh ngày 12/8/2018 và Nguyễn Đình T, sinh ngày 23/10/2021. Ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi cả hai con và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nhà đất ở chung và nợ chung: Anh chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện VKSND quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa, phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của thẩm phán và HĐXX như sau:
+ Việc thụ lý vụ án của Tòa án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện việc giao thông báo của Tòa án cho các đương sự, tiến hành các bước tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn, bị đơn chấp hành nghiêm chỉnh các thông báo, giấy báo của Tòa án.
+ Tại phiên tòa, HĐXX đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự tố tụng.
Đề xuất hướng giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị N xin ly hôn, anh D đồng ý ly hôn. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Ghi nhận sự thỏa thuận về thuận tình ly hôn của chị Lê Thu N và anh Nguyễn Đình D.
Về con chung: Chị Lê Thu N và anh Nguyễn Đình D có hai con chung là Nguyễn Đình P, sinh ngày 12/8/2018 và Nguyễn Đình T, sinh ngày 23/10/2021. Ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Đình T, anh D sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Đình P. Anh Duy có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung.
Nguyện vọng nuôi con của chị N và anh D là hợp lý nhưng xét hiện nay chị N đang trực tiếp chăm sóc con chung là cháu T, anh D trực tiếp chăm sóc con chung là cháu P nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao con chung là cháu Nguyễn Đình T cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung là cháu Nguyễn Đình P cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị N và anh D không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của anh chị cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, khi có yêu cầu hoặc khi có sự thay đổi khác.
Về tài sản chung, nhà đất ở chung và nợ chung: Anh chị trình bày anh chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.
4
Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật. Chị N và anh D có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa. Sau phần hỏi và tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Lê Thu N xin ly hôn với anh Nguyễn Đình D. Anh Nguyễn Đình D có đăng ký thường trú và hiện nay vẫn đang ở tại phường H, quận H, TP Hà Nội. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của chị N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thu N: Tài liệu trong hồ sơ thể hiện chị Lê Thu N và anh Nguyễn Đình D kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 18/01/2018 tại UBND phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của chị N và anh D, Hội đồng xét xử xác định: Do mâu thuẫn, nên vợ chồng nên chị N, anh D đã sống ly thân từ năm 2023, mỗi người ở một phòng dù vẫn ở chung nhà. Đến tháng 3 năm 2025 chị N và con thứ hai của anh chị là cháu Nguyễn Đình T đã chuyển về nhà mẹ đẻ chị N sống. Từ khi chị N chuyển đi thì anh chị mỗi người sống một cuộc sống, không còn quan tâm đến nhau. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N xin ly hôn, anh D đồng ý, vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thu N và ghi nhận sự thỏa thuận thuận tình ly hôn của chị Lê Thu N và anh Nguyễn Đình D.
[3]Về con chung: Chị Lê Thu N và anh Nguyễn Đình D cùng xác nhận trong thời kỳ hôn nhân anh chị có hai con chung là Nguyễn Đình P, sinh ngày 12/8/2018 và Nguyễn Đình T, sinh ngày 23/10/2021.
Xét nguyện vọng nuôi con chung của chị N, anh D. Đây là nguyện vọng chính đáng của người làm cha mẹ. Chị N, anh D đều chứng minh được điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hiện nay cháu Đình T đang được chị N chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; cháu Đình P đang được anh D chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và chị N cũng có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung là cháu Đình T. Mặc dù anh D có nguyên vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung nhưng xét nguyện vọng được nuôi con của chị N; điều kiện, hoàn cảnh thực tế của con chung và để đảm bảo sự ổn định về tâm lý cũng như học tập, sinh hoạt của con chung, Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu Nguyễn Đình T cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; Giao cháu Nguyễn Đình
5
P cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N, anh D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh chị cho đến con chung đủ 18 tuổi, khi có yêu cầu hoặc khi có sự thay đổi khác.
Về tài sản chung, nhà đất ở chung và các khoản nợ chung: Chị N và anh D trình bày anh chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
[3] Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm 1.1 khoản 1 Mục II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.
Chị Lê Thu N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Chị Lê Thu N và anh Nguyễn Đình D có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 55; Khoản 2 Điều 81; Khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ: Khoản 1, Điều 28; Điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ: điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn của chị Lê Thu N và anh Nguyễn Đình D.
Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Đình T, sinh ngày 23/10/2021 cho chị Lê Thu N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; Giao con chung là Nguyễn Đình P, sinh ngày 12/8/2018 cho anh Nguyễn Đình D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi bản án hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thu N và anh Nguyễn Đình D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh chị cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, khi có yêu cầu hoặc khi có sự thay đổi khác.
Chị Lê Thu N và anh Nguyễn Đình D có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nhà đất ở chung và nợ chung: Chị Lê Thu N và anh Nguyễn Đình T cùng xác nhận anh chị không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Lê Thu N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị N đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm
6
ứng án phí lệ phí Tòa án số 0034788 ngày 28/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.
Chị Lê Thu N và anh Nguyễn Đình D có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Việt Anh |
7
8
Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thu N và anh Nguyễn Đình D tranh chấp ly hôn
