TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2025/HS-ST.
Ngày: 26-5-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Tăng Tài Thủ.
2. Ông Lê Hồng Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Xa - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20, 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Huỳnh Đ, sinh năm: 2001; Giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1983 và bà Lê Thị Minh T, sinh năm: 1985; Tiền án: chưa; Tiền sự: 01 lần. Ngày 06/01/2025 bị Công an phường T, quận T xử phạt vi phạm hành chính với số tiền tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt ngày 29/4/2025; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực T. Có mặt.
2. Họ và tên: Phạm Thành N, sinh năm: 2000; Giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ) và bà Phạm Thị T1, sinh năm: 1981; Tiền án: chưa; Tiền sự: 01 lần. Ngày 06/01/2025 bị Công an phường T, quận T xử phạt vi phạm hành chính với số tiền tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực T. Có mặt.
- Người làm chứng: Bà Lê Thị Minh T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 17 giờ ngày 09/01/2025, Nguyễn Huỳnh Đ và Phạm Thành N bàn tính với nhau hùn tiền mua ma túy sử dụng. Do N không có tiền nên Đ cho N mượn 150.000 đồng, phần của Đ 150.000 đồng, tổng cộng Đ đưa N 300.000 đồng để hùn mua ma túy. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô 65EA-140.11 chở Nhân từ nhà Đ đến bến phà T, quận T. Tại đây, Đ ngồi chờ còn N đi phà qua T thuê xe Honda chở khách của người đàn ông (không rõ họ, tên, địa chỉ) chở N đến đèn xanh, đèn đỏ thuộc phường T. Khi đến nơi, N nói với người đàn ông dừng xe đợi, N xuống xe đi bộ vào hẻm gặp một người phụ nữ tên Đ1 hỏi mua ma túy, N đưa tiền cho Đ1 và nhận một gói ma túy từ Đ1. Sau khi mua được ma túy, N đi bộ lại nơi người đàn ông chở N quay lại bến phà T để về T gặp Đ, Đ điều khiển xe mô tô 65EA-140.11 chở N về nhà Đ. Đến 20 giờ cùng ngày, N và Đức C ra một phần ma túy vừa mua cho vào dụng cụ sử dụng ma túy để sử dụng, phần ma túy còn lại cất giấu vào rảnh cửa sổ tại nhà Đ để dành sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy, cả hai nằm ngủ.
Do Đ là đối tượng nghiện ma túy thuộc diện quản lý của phường T nên vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 10/01/2025, Công an phường T đến mời Đ để xét nghiệm chất ma túy thì phát hiện Đ và N đang nằm và có bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên yêu cầu Đ và N giao nộp ma túy, N chỉ số ma túy cất giấu tại rảnh cửa sổ nhà Đ, lực lượng Công an tiến hành thu giữ: 01 (một) gói nilon không màu nẹp miệng có viền màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể không màu và 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, một đầu cắt nhọn có viền đen; 01 (một) bình nhựa trong suốt, nắp vàng trên nắp có cắm 01 nỏ thủy tinh và 01 ống nhựa màu đen. (Bút lục 01 - 02). Đến ngày 20/5/2025 thu giữ 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màu xanh, nhãn hiệu OPPO (không kiểm tra chất lượng bên trong máy, máy không lên nguồn).
Tại Bản kết luận giám định số 48/KL-KTHS ngày 16/01/2025 của Phòng K Công an thành phố C, kết luận: tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2141 gam (Bút lục 62).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đ và N đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Ngoài ra, N và Đ còn khai nhận vào ngày 09/01/2025 bị cáo N có sử dụng điện thoại di động để liên lạc với Đ1 mua ma túy và hẹn địa điểm giao nhận ma túy. Đồng thời các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với kết luận giám định nêu trên.
Về tang vật: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T nhập kho vật chứng theo quy định. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 65EA-140.11 Đ dùng làm phương tiện chở N đi mua ma túy thuộc sở hữu của bà Lê Thị Minh T không thuộc vật chứng phải tịch thu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý.
Tại Cáo trạng số 38/CT-VKSTN ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ, Phạm Thành N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự).
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa điều chỉnh họ tên mẹ bị cáo N là bà Phạm Thị T1, còn lại vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố; đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ, Phạm Thành N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ, Phạm Thành N mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Miễn cho hai bị cáo do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Bộ luật Tố tụng hình sự) đề nghị.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 48/KL-KTHS ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Phòng K Công an thành phố C bên trong có chứa ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) bình nhựa trong suốt, nắp vàng trên nắp có cắm 01 (một) nỏ thủy tinh và 01 (một) ống nhựa màu đen.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màu xanh, nhãn hiệu OPPO (không kiểm tra chất lượng bên trong máy, máy không lên nguồn).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tham gia tranh luận, đồng thời bị cáo Đ nói lời sau cùng bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi đã phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi, căn cứ xác định tội phạm: Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp nhau và phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định... Như vậy, có cơ sở xác định ngày 10/01/2025, Nguyễn Huỳnh Đ và Phạm Thành N có hành vi mua ma túy của người phụ nữ tên Đ1 nhằm mục đích sử dụng với khối lượng ma túy bị thu giữ qua giám định là 0,2141 gam, loại Methamphetamine. Hành vi sai trái mà các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét, các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng không chịu phấn đấu sống có ích, lại tiêm nhiễm thói hư tật xấu, sa đà vào nghiện ngập. Mặc dù, hoàn toàn nhận thức được tác hại của chất ma túy cũng như biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi các bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây nguy hại đối với xã hội, nhất là trong tình hình hiện nay có nhiều người nghiện ma túy và tội phạm về ma tuý ngày càng phổ biến, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, đời sống văn hóa lành mạnh của nhân dân, đồng thời cũng là nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội khác. Do vậy, cần dành cho các bị cáo mức hình phạt nghiêm để giáo dục các bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa chung. Trong vụ án có hai bị cáo cùng thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng nhưng không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể nên theo Điều 17 Bộ luật hình sự được xem là đồng phạm giản đơn. Khi lượng hình Hội đồng xét xử có cân nhắc tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.
[4] Về nhân thân: Cả hai bị cáo đều có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.
[8] Về xử lý vật chứng: như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về vấn đề khác: Đối với người phụ nữ tên Đ1 đã bán ma túy cho N và người đàn ông chở N đi mua ma túy do N không xác định được nhân thân, lai lịch Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau nên không đề cập giải quyết là phù hợp.
[10] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[11] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ, Phạm Thành N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: - Bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ 01 (một) năm tù;
- Bị cáo Phạm Thành N 01 (một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo Đ và Nhân tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 10/01/2025).
Hình phạt bổ sung: miễn cho các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 48/KL-KTHS ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Phòng K Công an thành phố C bên trong có chứa ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) bình nhựa trong suốt, nắp vàng trên nắp có cắm 01 (một) nỏ thủy tinh và 01 (một) ống nhựa màu đen.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màu xanh, nhãn hiệu OPPO (không kiểm tra chất lượng bên trong máy, máy không lên nguồn).
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ, Phạm Thành N mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
* Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
* Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Mộng Tuyền |
Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 35/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ, Phạm Thành N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: - Bị cáo Nguyễn Huỳnh Đ 01 (một) năm tù; - Bị cáo Phạm Thành N 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo Đ và Nhân tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 10/01/2025). Hình phạt bổ sung: miễn cho các bị cáo.
