|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 14-4-2025.
“Về việc: Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Quang Thanh và bà Bùi Thị Luyến.
Thư ký phiên tòa: bà Biện Thị Uyển Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2025/TLST–HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2015/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lâm Ngọc T, sinh năm 1994; Địa chỉ thường trú: Số A T, Phường H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú hiện nay: Số A đường Đ, phường B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt, đã có đơn xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lỗ Khắc T1, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Xóm C, Thôn A, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Nguyên đơn chị Lâm Ngọc T trình bày yêu cầu và căn cứ khởi kiện như sau:
Chị T và anh Lỗ Khắc T1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại U, thành phố B vào năm 2024. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống chỉ hạnh phúc được thời gian ngắn, thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng, không có tiếng nói chung trong mọi việc gia đình; anh T1 không có trách nhiệm với gia đình, làm có thu nhập tự cất giữ không chia sẽ giúp đỡ với chị T; ngoài ra do anh T1 làm công việc buôn bán quán nhậu nên thường xuyên nhậu nhẹt về khuya nên vợ chồng không có thời gian để quan tâm tới nhau. Nhiều lần vợ chồng nói chuyện với nhau để giải quyết nhưng tình trạng mâu thuẫn vẫn không được cải thiện, thậm chí anh T1 còn đập phá đồ đạc trong nhà. Đến tháng 10/2024 chị T chuyển đi nơi khác, vợ chồng sống ly thân đến nay. Chị T xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên yêu cầu ly hôn. Trong thời gian chung sống, chị T và anh T1 không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung chị N không yêu cầu giải quyết.
[2]. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh Lỗ Khắc T1 không tham gia tố tụng và vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai của anh T1 và cũng không tiến hành hòa giải được.
[3]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:
Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Ngọc T; xử cho chị T được ly hôn với anh Lỗ Khắc T1; buộc chị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lâm Ngọc T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lỗ Khắc T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[1.2]. Trong vụ án chị có yêu cầu của nguyên đơn chị Lâm Ngọc T, yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Lỗ Khắc T1; ngoài ra không có yêu cầu nào khác của các đương sự; nên quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; các đương sự đều có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Đối với yêu cầu ly hôn của chị Lâm Ngọc T đối với anh Lỗ Khắc T1:
Chị Lâm Ngọc T và anh Lỗ Khắc T1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký và được U, thành phố B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 19/4/2024, nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hợp pháp. Vì vậy, chị T có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn chị T khai về quá trình hôn nhân với anh T1 chung sống với nhau thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm về lối sống, mâu thuẫn trong tính cách, công việc, từ đó cải nhau thường xuyên, vợ chồng thiếu sự quan tâm, yêu thương chăm sóc lẫn nhau. Do mâu thuẫn, nên chị T và anh T1 đã sống ly thân từ năm tháng 10/2024 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc, không còn tình nghĩa vợ chồng. Mặt khác, mâu thuẫn như chị T trình bày tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án phù hợp với kết quả xác minh tình trạng hôn nhân theo biên bản lập ngày 23/01/2025.
Quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị T không có nguyện vọng đoàn tụ, còn anh T1 vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành ghi nhận ý kiến và không hòa giải đoàn tụ được.
Xét: Hôn nhân giữa chị T và anh T1 lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thể hiện ở việc giữa vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, đã sống ly thân trong thời gian dài. Vì vậy, việc ly hôn theo yêu cầu của chị T đối với anh T1 là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận, là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và tinh thần hướng dẫn tại điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[2.2]. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
[3]. Về án phí: chị Lâm Ngọc T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4]. Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 4 điều 147, các Điều 227, 228, 238, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Ngọc T: chị Lâm Ngọc T được ly hôn với anh Lỗ Khắc T1.
- Về án phí: chị Lâm Ngọc T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006467 ngày 03/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận, sau khi khấu trừ, chị T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tân |
Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn
- Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án ly hôn tranh chấp nuôi con
