TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc ————————— |
Bản án số: 35/2025/HSST
Ngày 14 tháng 4 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vi Thị Hương Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thành Đô;
- Ông Lê Văn La.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh A - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/HSST-QĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Đỗ Văn L, sinh năm 1982; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Đỗ Văn M (đã mất) và con bà: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1940; Gia đình có 08 anh, chị, em, bị cáo là thứ 8; Vợ: Phạm Thị T, sinh năm 1982; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2005.
Nhân thân: Bản án số 38/2007/HS/ST ngày 26/6/2007 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt Đỗ Văn L 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng. L đã chấp hành xong thời gian thử thách; nộp án phí HSST ngày 09/11/2007 (Đã được xóa án tích).
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị can không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”.
- Bị hại: Anh Thân Đức T1, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp:
- Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1961;
- Chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1985;
2
- Anh Thân Đức T3, sinh năm 2006;
- Anh Thân Đức K, sinh năm 2009;
Cùng nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Thân Đức T4, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có đơn vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Thân Đức T4, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có đơn vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn L, sinh năm 1982, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang được Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp giấy phép lái xe hạng B2 số [...] ngày 25/02/2015, tuy nhiên ngày 12/12/2022, L bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe hạng B2 trên trong thời gian 23 tháng kể từ ngày 12/12/2022. Vào khoảng 12 giờ ngày 01/11/2024, L điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29A - 158.10 đi từ nhà đến Công ty “L” để chở anh Chen X Feng người Trung Quốc về ngôi nhà anh F đang thuê ở khu Đ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. L đi theo tuyến đường huyện Đ- thị trấn V rồi qua cầu vượt để vào khu đô thị P, thị trấn V. Đến khoảng 12 giờ 51 phút cùng ngày, L điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29A- 158.10 đi với tốc độ khoảng 35- 40km/h hướng cầu vượt Quốc lộ A - Tỉnh lộ 295 đến khu vực ngã tư giao nhau giữa 02 tuyến đường nội thị thuộc khu đô thị P, thị trấn V. Cùng lúc này, ở phía bên trái theo chiều đi của L có anh Thân Đức T1, sinh năm 1983 trú tại thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98M1 – 036.84 vào khu vực ngã tư. L khai: Lúc này, L không giảm tốc độ, không chú ý quan sát nên khi anh T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98M1- 036.84 đến giữa ngã tư thì L điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29A- 158.10 đi đến đã đâm vào phần giảm sóc trước, cánh yếm bên phải của xe mô tô anh T1. Hậu quả, anh T1 ngã ra đường bất tỉnh được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh B rồi chuyển lên Bệnh viện V để điều trị. Tại hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Đa khoa tỉnh B và Bệnh viện V, thể hiện: Anh T1 vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh B hồi 14 giờ 19 phút ngày 01/11/2024 với tình trạng: Gãy di lệch 1/3 giữa 2 xương cẳng chân trái; dập não thùy thái dương trái; chảy máu khoang dưới nhện, tụ máu dưới màng cứng cấp lan tỏa bán cầu trái, vỡ xương thái dương- đỉnh phải. Đến ngày 04/11/2024, anh T1 được chuyển lên Bệnh viện V điều trị, chuẩn đoán: Tổn thương nội sọ (S06) - Viêm phổi thùy, không đặc hiểu (J18.1), chảy máu dưới màng cứng (S06.5), chảy máu trên màng cứng (S06.4); gãy xương cẳng chân phải. Ngay sau khi vụ việc tai nạn xảy ra, Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và tạm giữ: 01 xe ô tô, biển kiểm soát 29A-
3
158.10 và 01 xe mô tô, biển kiểm soát 98M1 – 036.84. Đồng thời, tiến hành xét nghiệm chất ma túy và kiểm tra nồng độ cồn đối với Đỗ Văn L, kết quả xác định: Nồng độ cồn trong hơi thở là 0,000mg/l và âm tính với các chất ma túy. Ngày 19/11/2024, Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện L chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc tai nạn, phương tiện và 01 giấy phép lái xe hạng B2 của Đỗ Văn L (bị tước theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ số 3405/QĐ-XPHC ngày 12/12/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh B) đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L giải quyết theo thẩm quyền.
Kết quả khám nghiệm hiện trường và dựng lại hiện trường vụ tai nạn
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông thuộc ngã tư đường nội thị, phía T thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Lấy tâm đầu đường hướng đi đường gom tuyến đường sắt làm điểm mốc, lấy mép đường bên phải làm mép đường chuẩn. Bên phải, bên trái của hiện trường được tính theo chiều đi của đường nội thị hướng tỉnh lộ 295 - Cầu vượt. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn thuộc ngã tư đường trải nhựa áp phan thẳng phẳng, mặt đường rộng 1000cm, lối mở đầu đường hướng đường sân vận động huyện rộng 3200cm. Các mép đường có vỉa hè rộng 5000cm.
Xe mô tô biển kiểm soát 98M1 - 036.84 đổ nghiêng trái trên mặt đường phải, đầu xe quay về hướng Đ, đầu trục bánh trước, điểm gần nhất cách mép đường phải 256cm. Đầu trục bánh sau điểm gần nhất cách mép đường phải 220cm và cách đến điểm mốc về hướng Tây Nam 1020cm, ký hiệu là (1).
Xe ô tô biển kiểm soát 29A – 158.10 đỗ tự nhiên trên mặt đường bên trái, đầu xe quay về hướng Đ. Đầu trục bánh trước bên trái điểm gần nhất cách mép đường phải 640cm. Đầu trục bánh sau bên trái điểm gần nhất cách mép đường phải 630cm và cách đến đầu trục bánh trước xe (1) về hướng Tây Nam 420cm, ký hiệu (2).
Dấu vết cày xước màu trắng đục ngắt quãng không đều nhau trên mặt đường phải trong phạm vi ngã tư, kích thước (1150x80x2)cm. Chiều hướng Đ - T. Đầu vết cách mép đường phải 490cm, cuối vết kết thúc tại mép bàn để chân trước bên trái xe (1), cách mép đường phải 240cm, ký hiệu (3).
Dấu vết máu khô thẫm màu nằm trên mặt đường trái kích thước (140x80)cm, tâm vết cách mép đường phải 950cm và cách điểm đầu trục bánh sau bên trái xe (2) về hướng T 540cm, ký hiệu (4).
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 98M1- 036.84.
Thân xe chùn cong theo hướng từ phải sang trái, mặt dưới đầu tay phanh có dấu vết mài sát kim loại bám dính vật chất màu đen dạng sơn, kích thước (1,5x1,5) cm, tâm vết cách đất 94cm. Má lốp, mặt lõm bên phải lốp xe bánh trước có dấu vết mài sát cao su hướng vào tâm, ngược chiều chuyển động tiến, kích thước (32x3,5) cm, tâm vết cách chân van ngược chiều chuyển động tiến 60cm. Mặt trước đĩa phanh trước tại vị trí tương ứng có dấu vết mài sát kim loại bám dính vật chất màu
4
đen dạng sơn, kích thước (30x0,4) cm. Càng bên phải và đầu trục bên phải bánh trước có dấu vết mài sát kim loại bám dính vật chất màu đen dạng sơn, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (27,5x3) cm, tâm vết cách đất 40cm. Cạnh bên phải cung trước chắn bùn bánh trước tại vị trí càng xe có dấu vết mài sát sơn nhựa, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (13x8,5) cm, bề mặt bám dính vật chất màu trắng, tâm vết cách đất 56cm. Giảm sóc bên phải gãy vỡ bung bật, bề mặt có dấu vết mài sát sơn nhựa màu đỏ, trắng đen, kích thước (52x30) cm, tâm vết cách đất 26cm. ½ phía sau cánh yếm bị gãy vỡ, chùn cong từ phải sang trái, bề mặt có dấu vết mài sát sơn nhựa, kích thước (38x12) cm. Mặt bên phải và giá kim loại bảo vệ lốc máy có dấu vết chùn cong kim loại, bề mặt có dấu vết mài sát bám dính vật chất màu đen dạng sơn, kích thước (8x6,8) cm, tâm vết cách đất 33cm. Phanh chân bị chùn cong theo hướng từ trước về sau, mặt trước bàn phanh chân có dấu vết mài sát kim loại bám dính vật chất màu đen dạng sơn, kích thước (4,3x0,7) cm, tâm vết cách đất 31cm. Vỏ cao su để chân bên phải bị rách thủng, xô lệch theo hướng từ trước về sau, bề mặt lộ lõi kim loại phía trong, bề mặt lõi kim loại có dấu vết mài sát kim loại, kích thước (2 x 2,2) cm. Cạnh bên phải cốp xe có dấu vết mài sát sơn nhựa, kích thước (20x18) cm, tâm vết cách đất 71cm. Để chân sau bên phải có dấu vết mài sát kim loại, cao su hướng từ sau ra trước, kích thước (4,5x3) cm. Mặt ngoài ốp kim loại bảo vệ ống xả bề mặt bám dính vật chất màu đen hướng từ sau ra trước, kích thước (36 x 5,5) cm. Cụm đèn hậu, đèn tín hiệu phía sau hai bên bị bung bật khỏi vị trí cố định, cạnh bên phải có dấu vết mài sát nhựa bám dính vật chất màu đen dạng sơn, kích thước (10 x 0,5) cm, tâm vết cách đất 77cm. Mặt lăn, má lốp bên trái bánh xe trước có dấu vết mài sát cao su quanh diện lốp xe, cạnh bên trái hệ thống nhựa phía trước đầu xe, cánh yếm bên trái có dấu vết mài sát sơn nhựa, kích thước (90 x 40) cm. Bề mặt gương chiếu hậu bên trái có dấu vết mài sát nhựa, dạng vỡ mặt gương kích thước (15x6,5) cm. Đầu tay nắm bên trái có dấu vết mài sát kim loại bám dính vật chất màu trắng, kích thước (2 x 1,5) cm.
Cụm chi tiết cạnh ngoài cần số, để chân trái phía trước và phía sau bị chùn cong theo hướng từ trái sang phải, bề mặt có dấu vết mài sát kim loại, cao su bám dính vật chất màu trắng. Cạnh bên trái lốp xe và tay xách có dấu vết mài sát sơn nhựa, kim loại, kích thước (35 x 15) cm. Cạnh bên trái biển số có dấu vết mài sát kim loại, kích thước (14x1) cm. Mặt lăn, má lốp bên trái bánh sau có dấu vết mài sát cao su quanh lốp xe.
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 29A - 158.10.
½ bên trái ba đờ sốc có dấu vết bẹp lõm, thủng mài sát sơn nhựa, chiều hướng từ trước về sau, từ trái sang phải bám dính vật chất màu trắng dạng sơn, vụn nhựa màu đỏ, kích thước (88x45) cm, tâm vết cách đất 45cm. Mặt ngoài bên trái ba dờ sốc có dấu vết mài sát, cày xước sơn nhựa, kích thước (28,5x16) cm, tâm vết cách đất 32cm. Biển số xe bị cong vênh theo hướng từ trái sang phải, cạnh bên trái có
5
dấu vết mài sát kim loại, kích thước (1,6 x 0,1) cm, tâm vết cách đất 40cm. Mặt biển số xe phía trước có dấu vết mài sát sơn, kim loại bám dính vật chất màu đen dạng các đường thẳng song song, kích thước (35x7,5) cm, tâm vết cách đất 42,5cm. Ba đờ sốc tại vị trí tương ứng ở phía dưới và cạnh bên phải có dấu vết cày xước, mài sát sơn nhựa, chiều hướng từ trái sang phải, kích thước (40x30) cm, tâm vết cách đất 33cm. Ốp kim loại bên trái nắp capo và phía trên cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu bên trái có dấu vết bẹp lõm kim loại, hướng từ trước về sau, từ trái sang phải, bề mặt dấu vết này và nắp capo tại vị trí tương ứng có dấu vết mài sát sơn dạng vân vải sợi, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải, kích thước (26x21,5)cm, tâm vết cách đất 86cm. Mặt trước ½ bên trái nắp capo bị chùn cong theo chiều hướng từ trước về sau, bề mặt có dấu vết mài sát sơn, bám dính vật chất màu đỏ, màu trắng dạng sơn, chiều hướng từ trái sang phải, từ dưới lên trên, kích thước (51,5x24,8)cm. Má lốp ngoài lốp xe bên trái trục bánh số 1 có dấu vết mài sát cao su ngược chiều chuyển động tiến, kích thước (100x8,5) cm, tâm vết cách chân van ngược chiều chuyển động tiến 23cm. Mặt trên nắp capo có dấu vết mài sát sơn sạch bụi đất, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (51,5x51,5) cm. Ốp nhựa lôgô phía trước đầu xe có dấu vết mài sát sơn nhựa bám dính vật chất màu đen dạng sơn, chiều hướng từ trái sang phải, kích thước (31x2,8) cm, tâm vết cách đất 63,5cm. Kính chắn gió phía trước có dấu vết lõm dạng vỡ kính, hướng từ trước về sau, chếch chéo từ dưới lên trên, từ trái sang phải, bề mặt bám dính vật chất dạng lông tóc màu đen, kích thước (126x110) cm. Ốp kim loại bên trái đầu xe phía trên bên trái bánh xe trục bánh số 1 có dấu vết mài sát sơn, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (46x0,5) cm, tâm vết cách đất 77cm.
Tại Bản kết luận giám định số: 2816/24/KLTTCT-TTPY ngày 12/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Thân Đức T1 tại thời điểm giám định là: 85%. Cơ chế, chiều hướng hình thành thương tích: Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng gây thương tích”.
Tại kết luận giám định số 2660/KL-KTHS ngày 16/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:
“ - Dấu vết chùn cong, gãy vỡ, mài sát sơn, nhựa, kim loại, bám dính chất màu đen - đỏ tại biển số trước, ba đờ sốc trước (vị trí xung quanh biển số) của xe ô tô biển kiểm soát 29A - 158.10, có hướng từ trước ra sau (ảnh số 14, 15,20, 21 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát sơn, nhựa, cao su, kim loại, bám dính chất màu đen tại bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98M1 - 036.84 trong tư thế đứng gồm: má lốp bánh trước, đĩa phanh, giảm sóc trước, ốp bảo vệ giảm sóc trước, cánh yếm, có hướng từ phải sang trái (ảnh số 10, 12, 13, 14, 15, 20 bản ảnh khám phương tiện).
6
- Dấu vết dập vỡ, rách, mài sát sơn, nhựa tại góc bên trái ba đờ sốc trước của xe ô tô biển kiểm soát 29A - 158.10, có hướng từ trước ra sau (từ ảnh số 9 đến 12 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong, mài sát cao su, kim loại, bám dính chất màu đen tại bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98M1 - 036.84 trong tư thế đứng gồm: chân phanh, để chân trước, vỏ máy, có hướng từ phải sang trái, từ trước ra sau (ảnh số 25, 26, 27 bản ảnh khám phương tiện).
- Dấu vết mài sát sơn, nhựa, cao su, kim loại tại bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98M1 - 036.84 gồm: đầu tay nắm, ốp gương chiếu hậu, ốp nhựa đầu xe, cánh yếm, má lốp bánh trước, để chân trước, để chân sau, tay xách phía sau được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98M1 - 036.84 đổ nghiêng trái, văng rê trên mặt đường tạo nên, đồng thời tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 3 trên hiện trường.
- Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 29A - 158.10 với xe mô tô biển kiểm soát 98M1 - 036.84 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 3, thuộc khu vực giao nhau trong khu nội thị giữa tuyến đường hướng Tỉnh lộ 295 đi cầu vượt với tuyến đường sân vận động đi đường sắt.
- Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.”
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 123/KL-HĐĐGTS ngày 13/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận:
“Giá trị phần hư hỏng của các bộ phận trên xe ô tô biển kiểm soát 29A - 158.10 tại thời điểm ngày 01/11/2024 là 7.900.000 đồng. Giá trị phần hư hỏng của các bộ phận trên xe mô tô biển kiểm soát 99M1 - 036.84 tại thời điểm ngày 01/11/2024 là 1.150.000 đồng”.
Kết quả điều tra, xác định: Đỗ Văn L (đang bị tước giấy phép lái xe) đã điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29A - 158.10 đi vào khu vực ngã tư giao nhau nhưng không chú ý quan sát, không giảm tốc độ vi phạm vào khoản 23, Điều 8, Luật giao thông đường bộ; khoản 3 Điều 5, Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G, gây hậu quả anh Thân Đức T5 bị thương tích 85% nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Đỗ Văn L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai, vi phạm pháp luật.
Bản cáo trạng số: 33/CT-VKS ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Đỗ Văn Luân về tội: “Vi phạm quy
7
định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đỗ Văn L 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách 05 (năm) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Văn L cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về vật chứng: Áp dụng Khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Trả lại bị cáo L 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 25/02/2015.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo L phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST theo quy định.
Ngoài ra còn đề nghị về án phí, xem xét về quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Đỗ Văn L nhất trí với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và không tranh luận gì thêm.
Bị cáo Đỗ Văn L nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ. Xét thấy họ có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt họ không ảnh hưởng quá trình
8
giải quyết của vụ án, căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3]. Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan Điều tra; phù hợp kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện; phù hợp với các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình điều tra, còn xác định ngày 12/12/2022, L bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe hạng B2 trên trong thời gian 23 tháng kể từ ngày 12/12/2022 theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ số 3405/QĐ-XPHC ngày 12/12/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh B. Do đó, L phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại bản Cáo trạng số 33 ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo L là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (viết tắt:TNHS):
Về nhân thân của bị cáo: Ngày 26/6/2007, bị cáo L bị Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo và đã được xóa án tích. Từ đó đến nay, bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật nên bản thân không tiền án, tiền sự gì.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, phía gia đình bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến sức khỏe của bị hại thương tích 85%, hành vi của bị cáo còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn giao thông tại địa phương.
Về nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn có lỗi của bị cáo L điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29A - 158.10 đi vào khu vực ngã tư giao nhau nhưng không chú ý quan sát, không giảm tốc độ vi phạm vào khoản 23, Điều 8, Luật giao thông đường bộ; khoản 3 Điều 5, Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G, trong thời gian này bị cáo đang bị tước giấy phép lái xe. Mặt khác, lỗi dẫn đến tại nạn giao thông có một phần lỗi của bị hại anh Thân Đức T1 điều khiển xe mô tô 98M1-036.84 không nhường đường tại nơi đường giao nhau, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi qua nơi đường giao nhau cùng mức
9
vi phạm khoản 1 Điều 24 của Luật giao thông đường bộ, khoản 3 Điều 5 Thông tư 31, bị hại bị thương tích 85%. Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. HĐXX, xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung tội phạm.
Xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 17/12/2024, bị cáo L đã tự nguyện bồi thường cho anh Thân Đức T1 số tiền 190.000.000 đồng. Phía đại diện bị hại và đại diện theo ủy quyền của bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm. HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[7]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố Tụng Hình sự: Đối với 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 25/02/2015 mang tên Đỗ Văn L là giấy tờ cá nhân của bị cáo nên trả lại.
[8]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Đỗ Văn L phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[9]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản, khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 47, Khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố Tụng Hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1,3 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án, xử:
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn L 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách 05 (năm) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 14/4/2025.
Giao bị cáo Đỗ Văn L cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
10
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
3. Về vật chứng: Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 25/02/2015 mang tên Đỗ Văn L.
(Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Văn L phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vi Thị Hương Giang |
Bản án số 35/2025/HSST ngày 14/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 35/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Luân - Giao thông
