Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 35/2025/DS-PT

Ngày 11 tháng 04 năm 2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Hương

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hán Hưởng

Ông Nguyễn Khắc Chiên

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 113/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2024/DS-ST ngày 26/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo của đương sự.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 12 năm 2024, và các Quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Xuân H (Đã chết ngày 09/8/2024) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1959.

    Đều trú tại: Khu F, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

    Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông H:

    1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1959.

      Nơi thường trú: Khu F, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

    2. Bà Lê Thị H1, sinh năm 1978.

      Nơi thường trú: Khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

    3. Ông Lê Mạnh H2, sinh năm 1983.

      Nơi thường trú: Khu F, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

    4. Ông Lê Nguyên H3, sinh năm 1985.

      Nơi thường trú: Khu F, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

    5. Ông Lê Nguyên C, sinh năm 1989.

      Nơi thường trú: Khu F, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà T, bà H1, ông H2, ông H3, ông C: Ông Tạ Hồng C1, sinh năm 1949.

    Địa chỉ: Khu A, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

    (Ông C1 có mặt; bà bà T, bà H1, ông H2, ông H3 đều vắng mặt)

  2. Bị đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1956 và bà Đỗ Thị L, sinh năm 1957.

    Địa chỉ: Tổ F - Khu F - Phường N - V - Phú Thọ.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Hồ Văn P, sinh năm 1978 (Theo giấy ủy quyền ngày 04/4/2022).

    Địa chỉ: Số A, ngõ A, phố M, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

    (Ông P có mặt; bà L, ông T1 đều vắng mặt)

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1964.

      Địa chỉ: Tổ B, khu D, Phường V, T.P V, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)

    2. Anh Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1989.

      Địa chỉ: Tổ F, khu F, phường N, T.P V, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)

    3. Anh Nguyễn Hồng M, sinh năm 1993.

      Địa chỉ: Tổ F, khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)

    4. Văn phòng C4.

      Địa chỉ: Số B, Đại lộ H, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)

    5. UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

      Địa chỉ: Phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc S - Chức vụ: Chủ tịch UBND thành phố V.

      Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Thành T2 - Chức vụ: Phó trưởng phòng T6 (Vắng mặt).

    6. UBND phường N. Thành phố V.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Tiến D - Chức vụ: Chủ tịch UBND phường N, thành phố V.

      Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Anh T3 - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND phường N (Vắng mặt).

Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Văn T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án nguyên đơn

ông Lê Xuân H, bà Nguyễn Thị T trình bày:

Năm 2008, gia đình ông bà có nhận chuyển nhượng 96,8m² thửa đất số 403, tờ bản đồ số 07, địa chỉ: tổ F, khu F, phường N - TP V của gia đình bà Nguyễn Thị H4, đất nhận chuyển nhượng đã được UBND thành phố V cấp GCNQSD đất ngày 31/7/2008. Do gia đình ông H, bà T chưa có điều kiện làm nhà và ở xa nên đất mua vẫn để không. Lợi dụng việc này, hai hộ liền kề là hộ ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị M1 xây dựng lấn chiếm diện tích đất trên mà gia đình ông bà đã nhiều lần yêu cầu hai gia đình tháo dỡ công trình xây dựng trên đất nhà ông bà để trả lại đất cho gia đình ông bà xây nhà nhưng không có kết quả. Đầu năm 2021, gia đình ông H bà T có nhờ Công ty Đ đo đất của gia đình thì được biết: Đất nhà ông bà chỉ còn 32,4m², diện tích bị lấn chiếm là 64,4m² trong đó hộ ông T1 lấn chiếm khoảng trên 40m², còn lại là do hộ bà M1 lấn chiếm được thể hiện tại bản trích đo của Công ty Đ. Quá trình hòa giải tại phường N, hộ bà M1 đã tháo dỡ công trình lấn chiếm và trả lại đất cho ông H bà T nhưng hộ ông T1 không tháo dỡ. Trong quá trình giải quyết tại UBND phường N, ông bà mới biết việc Văn phòng C4 đã chứng thực vào bản cam kết ngày 28/8/2019 giữa bà Nguyễn Thị H4 và ông Trần Văn T1 với nội dung giao cho ông T1 8m² nằm trong đất của ông H, bà T, giao dịch này là trái pháp luật. Nay ông H, bà T đề nghị Tòa án giải quyết buộc hộ ông Trần Văn T1 – bà Đỗ Thị L phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất đã lấn chiếm của ông H, bà T để trả lại đất cho ông H, bà T.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Tạ Hồng C1 trình bày:

Ông C1 giữ nguyên nội dung, quan điểm của nguyên đơn ông Lê Xuân H, bà Nguyễn Thị T tại bản tự khai và đơn khởi kiện gửi Tòa án. Việc vợ chồng ông Trần Văn T1, bà Đỗ Thị L lấn chiếm khoảng trên 40m² đất và trên diện tích lấn chiếm có các công trình xây dựng như: Cổng xây, các công trình xây dựng khác và lấn chiếm khoảng không của thổ cư ông Lê Xuân H bà Nguyễn Thị T là sự thật, việc lấn chiếm này đã được thể hiện tại bản kết quả đo đạc của Công ty cổ phần Đ đo tháng 01/2021 và UBND phường N, thành phố V và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì cùng bản trích đo hiện trạng kèm theo.

Trong quá trình hòa giải tại UBND phường N, ông Trần Văn T1 cho rằng bà Nguyễn Thị H4 người bán nhà đất cho ông T1 phải chịu trách nhiệm, ông C1 cho rằng: Hiện tại ông Trần Văn T1 đang sử dụng gần 200m², trong khi đó GCNQSD đất của gia đình ông T1 do UBND thành phố V cấp ngày 25/9/2019 chỉ có 150m²; trên diện tích lấn chiếm có các công trình xây dựng thuộc quyền sở hữu của ông T1. Nay ông Lê Xuân H bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ông T1, bà L trả lại toàn bộ diện tích lấn chiếm và phải tháo dỡ công trình trên diện tích lấn chiếm là có căn cứ, là yêu cầu chính đáng. Đề nghị Tòa án giải quyết đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho ông H, bà T. Còn giữa gia đình ông T1 và bà Nguyễn Thị H4 có vướng mắc về chuyện mua bán nhà, đất trước dây không liên quan đến giải quyết vụ án này. Nếu hai bên không tự giải quyết được thì một trong hai bên yêu cầu Tòa án giải quyết bằng việc vụ án dân sự khác.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Hồ Văn P trình bày:

Khoảng tháng 8 năm 2019, ông Trần Văn T1 và bà Đỗ Thị L có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất của bà Nguyễn Thị H4, từ khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản đất đến nay gia đình ông T1 chỉ đến ở và giữ nguyên hiện trạng chứ không sửa chữa cơi nới gì thêm. Diện tích ông T1 nhận chuyển nhượng của bà H4 là 158m² nhưng diện tích theo bìa chỉ có 150m² còn 8m² là thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Hồng Q con trai bà H4 nên ông T1, bà H4 và anh Q cùng nhau lập Văn bản cam kết ngày 28/8/2019 tại Văn phòng C4 để cùng nhau thỏa thuận đối với diện tích 8m² nằm trong diện tích đất của anh Q. Còn diện tích mái le là gia đình bà H4 đã làm từ trước và chuyển nhượng cho ông T1 chứ ông T1 không làm. Tại buổi hòa giải của UBND phường N ngày 08/4/2022, bà H4 cho rằng phần xây dựng lấn chiếm sang đất của ông H, bà T do ông T1 xây dựng là không đúng vì nếu ông T1 làm thì khu dân cư và phường sẽ có ý kiến không cho làm để lấn sang phần đất của người khác được. Vì vậy, là người được ủy quyền toàn bộ để giải quyết vụ án, ông P đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xem xét giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị H4 trình bày:

    Khoảng năm 2005, bà H4 được cấp GCNQSD đất đối với diện tích đất hơn 300m² tại khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Năm 2007, bà H4 làm thủ tục tách một phần đất cho con trai là ông Nguyễn Hồng Q. Ngày 19/01/2007, U cấp GCNQSD đất đứng tên ông Nguyễn Hồng Q đối với thửa đất số 403, tờ bản đồ 07, diện tích 96,8m² đất ở, cấp GCNQSD đất cho bà Nguyễn Thị H4 đối với thửa đất số 203, tờ bản đồ số 07, diện tích 219,2m² trong đó có 95,2m² đất ở và 124m² đất vườn.

    Năm 2008, bà H4 có thay mặt ông Q đứng ra chuyển nhượng thửa đất số 403, tờ bản đồ 07, diện tích 96,8m² đất ở cho ông Lê Xuân H và bà Nguyễn Thị T. Sau đó ông H, bà T đã được cấp GCNQSD đất. Năm 2019, bà H4 đã bán 150m² (95,2m² đất ở và 54,8m² đất vườn) cùng tài sản trên đất là một ngôi nhà do bà H4 xây dựng năm 2017 cho ông Trần Văn T1 và bà Đỗ Thị L. Đến năm 2020, bà H4 bán 69,2m² diện tích đất còn lại của thửa đất số 203 cho bà Nguyễn Thị M1. Việc mua bán chuyển nhượng giữa bà và các bên không có ai tranh chấp gì.

    Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Xuân H và bà Nguyễn Thị T đối với ông Trần Văn T1, bà Đỗ Thị L, bà có quan điểm như sau: Tại thời điểm năm 2017, bà có làm nhà và xin cấp phép xây dựng, tuy nhiên do sức khỏe yếu phải thường xuyên đi viện nên việc xây nhà bà khoán cho thợ vì thế không nắm được có một phần mái le ở tầng hai có sang phần đất bà đã chuyển nhượng cho ông H vì ông H để đất trống không xây dựng gì từ khi mua nên lúc bà xây nhà có lấn chiếm sang một phần đất của ông H mà bà không biết. Đến năm 2019, do cần tiền để chữa bệnh nên bà đã nhờ môi giới bán giúp ngôi nhà xây năm 2017, diện tích 150m² cho ông H, bà L. Toàn bộ hồ sơ, giấy tờ chuyển nhượng bà thông qua môi giới, bà đã đưa toàn bộ hồ sơ cấp phép xây dựng, bản vẽ thiết kế nhà cho ông T1. Việc ông T1 lấn chiếm khoảng trên 40m² của nhà ông H bà không nắm được do diện tích bà bán cho ông H, ông T1 bà đã bán đủ và các bên cũng đã được cấp GCNQSD đất. Bà H4 đề nghị vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc của Tòa án và tại phiên tòa xét xử vụ án.

  2. Anh Nguyễn Hồng Q trình bày:

    Năm 2005, mẹ anh là bà Nguyễn Thị H4 được U cấp GCNQSD đất với diện tích khoảng 300m² tại địa chỉ: Khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Đến năm 2007, mẹ anh tách cho anh 96,8m² đất ở, anh đã được cấp GCNQSD đất, diện tích đất còn lại của mẹ anh là 219,2m² trong đó có 95,2m² đất ở và 124m² đất vườn. Năm 2008, mẹ anh có thay anh đứng ra chuyển nhượng cho ông Lê Xuân H và bà Nguyễn Thị T thửa đất 403, tờ bản đồ số 07, diện tích 98,6m² đất ở đứng tên anh. Năm 2017, mẹ anh có xin cấp phép xây dựng và làm nhà trên thửa đất đứng tên mẹ anh là thửa 203, tờ bản đồ số 07. Toàn bộ thiết kế và xây dựng mẹ anh khoán hết cho thợ nên không biết có một phần mái le khoảng 8m² đã lấn sang phần đất chuyển nhượng cho ông H. Năm 2019, do cần tiền chữa bệnh nên mẹ anh đã thông qua môi giới bán toàn bộ diện tích 150m² kèm ngôi nhà xây năm 2017 trên diện tích đất cho ông Trần Văn T1 và bà Đỗ Thị L. Toàn bộ hợp đồng chuyển nhượng và mua bán đều thông qua môi giới. Theo hợp đồng chuyển nhượng mẹ anh chỉ bán cho ông Tuấn150m² và ông T1 đã được cấp GCNQSD đất 150m².

    Đối với phần diện tích 8m² là lấn sang phần đất của ông H, tại văn bản cam kết ngày 18/8/2019 tại Văn phòng C4, ông Trần Văn T1 có cam kết không đòi hỏi khiếu nại gì với diện tích 8m² nằm trong GCNQSD đất của ông H, nay ông H yêu cầu khởi kiện ông T1 lấn chiếm diện tích đất của ông H thì đối với 8m2 này ông T1 phải có trách nhiệm trả lại. Đối với phần mai le 8m², gia đình anh Q đồng ý hỗ trợ cùng ông T1 tháo dỡ để trả lại đất cho ông H. Đối với phần diện tích ông T1 lấn chiếm ngoài phần mái le 8m² là do ông T1 tự xây lấn chiếm sau khi đã mua nhà đất của gia đình anh, không liên quan đến gia đình anh nên ông T1 phải có trách nhiệm tự tháo dỡ để trả lại cho ông H. Anh Q đề nghị vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc của Tòa án và tại phiên tòa xét xử vụ án.

  3. Ông Phùng Văn M2 - đại diện hợp pháp của Văn phòng C4 trình bày:

    Ngày 28/8/2019, bà nguyễn Thị H4 cùng hai con bà H4 cùng vợ chồng ông Trần Văn T1, bà Đỗ Thị L đến văn phòng C4 để yêu cầu lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất. Ông M2 yêu cầu hai bên xuất trình giấy tờ để làm hợp đồng chuyển nhượng thì hai bên đều xuất trình đủ giấy tờ để lập hợp đồng chuyển nhượng thì hai bên đều xuất trình đầy đủ giấy tờ. Theo quy định ông M2 đã kiểm tra giấy tờ đăng ký tài sản là quyền sử dụng đất để lập hợp đồng chuyển nhượng thì thấy đầy đủ bản chính GCNQSD đất số AH 785835 mang tên bà Nguyễn Thị H4 và 01 GCNQSD đất số AH 785834 mang tên ông Nguyễn Hồng Q đều do U cấp ngày 19/01/2007, 01 bản trích đo địa chính cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Công ty cổ phần Đ lập ngày 12/08/2019. (một bản diện tích 150m2, một bản diện tích 69,2m2 mang tên chủ sử dụng đất bà Nguyễn Thị H4. Sau khi dự thảo xong hợp đồng ông đã đưa cho hai bên đọc và thống nhất nội dung. Sau khi hai bên đọc kỹ nội dung và không có thắc mắc gì, ông M2 đã cho tất cả những người phải tham gia ký hợp đồng chuyển nhượng gồm bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng ký tên vào từng trang của hợp đồng chuyển nhượng, riêng trang 3 của hợp đồng chuyển nhượng các bên phải ký, ghi rõ họ tên và điểm chỉ ngón trỏ trái vào hợp đồng, sau đó ông ký tên công chứng viên xác nhận nội dung văn bản hợp đồng này rồi đóng dấu của văn phòng công chứng theo quy định rồi trả cho các bên tham gia giao dịch. Hai bên nhận đủ văn bản hợp đồng đã công chứng và không có thắc mắc gì. Sau đó hai bên còn có một bản cam kết về diện tích ngoài diện tích đã ghi trong GCNQSD đất của bà H4. Riêng ông T1 lập cam kết với bà H4 ông Q là chỉ xin cấp GCNQSD đất 150m², còn 8m², nói là của ông Q thì hai bên ông T1, ông Q tự giải quyết, không đòi hỏi, không khiếu kiện, không khiếu nại gì. Nội dung các bên cam kết đều thể hiện ý chí tự nguyện của các bên, sau đó ông M2 đã công chứng vào văn bản. Văn phòng C4 cũng giao cho mỗi bên hai bản để họ tự giữ. Sau đó một thời gian ông được ông Hà Công C2 là hòa giải viên của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì báo đến Tòa án làm việc liên quan đến văn bản công chứng ông đã chứng nhận giữa bà H4 với ông T1, bà L. Khi đến Tòa án ông được xem bản vẽ xác minh phần diện tích đất ông T1, bà L đang chiếm giữ ông mới biết ông T1, bà L đang lấn chiếm trái phép phần diện tích đất của người khác ở liền kề với phần diện tích ông T1 bà L đã mua của bà H4. Theo bản đồ hiện trạng thì phần diện tích ông T1, bà L đang sử dụng nhiều hơn phần diện tích ông T1 mua của bà H4 và cam kết chỉ làm GCNQSD đất 150m² và cũng không sử dụng đúng như văn bản mà bà H4, các con bà H4 và ông T1 đã cam kết.

    Quan điểm của ông M2 là buộc ông T1, bà L thực hiện đúng, nghiêm túc nội dung hợp đồng chuyển nhượng do văn phòng C5 số: 2421 ngày 28/8/2019 có diện tích 150m2 có trong GCNQSD đất của bà H4 và bản vẽ trích đo địa chính do Công ty cổ phần Đ và đo đạc Anh Thư đo vẽ ngày 12/08/2019 mà ông T1 bà H4 đã xuất trình tại văn phòng C4 khi làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bản cam kết lập cùng ngày 28/8/2019 lập tại văn phòng C4. Buộc ông T1 phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm trái phép của người có đất liền kề với đất ông T1 đã mua của bà H4. Ông Phùng Văn M2 xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa xét xử vụ án.

  4. U đại diện theo uỷ quyền là ông Phạm Văn C3 - Chức vụ: Phó trưởng phòng TNMT TP Việt Trì trình bày:

    Ông Lê Xuân H và bà Nguyễn Thị T được UBND Thành phố cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri AN 088430 ngày 31/7/2008 tại thửa đất số 403, tờ bản đồ số 07, diện tích 96,8 m²; mục đích sử dụng: đất ở. Nguồn gốc: Nhận chuyển nhượng một phần thửa đất số của gia đình bà Nguyễn Thị H4 tại tổ F, khu F, phường N, thành phố V.

    Ông Trần Văn T1 và bà Đỗ Thị L được UBND Thành phố cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri CQ 773586 ngày 25/9/2019 tại thửa đất số 495, tờ bản đồ số 07, diện tích 150,0 m² (đất ở: 95,2 m²; đất vườn: 54,8 m²); Nguồn gốc: Nhận thửa đất số của gia đình bà Nguyễn Thị H4 tại tổ F, khu F, phường N, thành phố V.

    Phần diện tích 11,5 m² ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T1, bà L phía trước thửa đất số 495, tờ bản đồ số 07 của ông Trần Văn T1, hiện nay ông T1 đã xây tường rào ngăn cách với đường giao thông và 01 trụ cổng, cổng sắt theo bản đồ địa chính là đất đường giao thông được sử dụng cho mục đích công cộng do UBND phường N quản lý, ông T1 bà L không có quyền sử dụng vào mục đích riêng.

    Quan điểm của UBND Thành phố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông T1, bà L phải tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc công trình xây dựng trên phần diện tích 40,7 m² để trả lại quyền sử dụng đất cho nguyên đơn và yêu cầu ông T1, bà L phải tháo dỡ toàn bộ 01 trụ cổng và hai cánh cống sắt bằng sắt hộp trên phần diện tích 11,5m² để trả lại lối đi ra đường giao thông của thửa đất số 403 cấp cho ông Lê Xuân H và bà Nguyễn Thị T:

    Theo Khoản 21 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 quy định: “21. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Tài sản gắn liền với đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất theo quy định của pháp luật. Giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của các luật có liên quan được thực hiện theo quy định của Luật này có giá trị pháp lý tương đương như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại Luật này”.

    Theo Khoản 4 Điều 5 Luật Đất đai năm 2024 về Nguyên tắc sử dụng đất: “4. Thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất liền kề và xung quanh”.

    Theo Khoản 1, Khoản 10 Điều 11 Luật Đất đai 2024 về Hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực đất đai:

    1. Lấn đất, chiếm đất, hủy hoại đất.

    ...

    10. Cản trở, gây khó khăn đối với việc sử dụng đất, việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    Theo khoản 1, 2 Điều 3 Nghị định 91/2019/NĐ-CPsửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định 04/2022/NĐ-CPthích về lấn, chiếm đấtsau:

    Giải thích từ ngữ

    2. Chiếm đất là việc sử dụng đất thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    ...

    b) Tự ý sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác mà không được tổ chức, cá nhân đó cho phép;

    ...”

    Theo các quy định trên, hành vi tự ý xây dựng trên quyền sử dụng đất của người khác đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể hiểu là việc một người không có quyền sở hữu đất nhưng tự ý xây dựng công trình xây dựng trên đất thuộc sở hữu của người khác mà không có sự đồng ý của người đó. Việc tự ý xây dựng trên đất của người khác là hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Do đó, việc ông H, bà T buộc ông T1, bà L phải tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc công trình xây dựng trên phần diện tích 40,7 m² để trả lại quyền sử dụng đất là đúng theo quy định của pháp luật.

    Việc ông T1, bà L đã xây tường rào ngăn cách với đường giao thông và 01 trụ cổng, cổng sắt trên phần diện tích 11,5m² thuộc đất đường giao thông là hành vi vi phạm quy định về sử dụng, khai thác trong phạm vi đất dành cho đường bộ được quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 12 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt :Dựng rạp, lều quán, cổng ra vào, tường rào các loại, công trình khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ”

    Người thực hiện hành vi quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 12 buộc phải phá dỡ công trình công trình xây dựng trái phép và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm gây ra.

    Việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất” giữa ông Lê Xuân H, bà Nguyễn Thị T, địa chỉ: Khu F, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ và ông Trần Văn T1, bà Đỗ Thị L, địa chỉ: Tổ E, khu F, phường N, thành phố V đề nghị Toà án nhân dân TP Việt Trì giải quyết theo thẩm quyền.

    Do công việc bận không thể tham gia vào quá trình giải quyết xét xử vụ án của tòa án các cấp ông C3 đề nghị Tòa án các cấp giải quyết xét xử vắng mặt theo quy định.

  5. Ủy ban nhân dân phường N đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Ngọc A - Chủ tịch UBND phường N trình bày:

    UBND phường N nhận được văn bản số 259/TA-VT ngày 26/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì về việc cử người tham gia tố tụng và xác minh, thu thập chứng cứ để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự tranh chấp QSD đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất giữa ông Lê Xuân H bà Nguyễn Thị T đối với ông Trần Anh T4 bà Đỗ Thị L tại khu F phường N. Sau khi kiểm tra, rà soát hồ sơ, UBND phường N có ý kiến cụ thể như sau:

    Qua đối chiếu với bản đồ địa chính phường đang quản lý, bản trích đo hiện trạng sử dụng đất do Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì cung cấp của cả hộ ông Trần Văn T1 và hộ ông Lê Xuân H không trùng khớp về mốc giới, kích thước với bản đồ địa chính phường đang quản lý (Theo Giấy CNQSD đất của ông Trần Văn T1 và ông Lê Xuân H).

    Đối với phần diện tích 11,5m² phía trước thửa đất của ông Trần Văn T1 là đường giao thông, được sử dụng vào mục đích công cộng do Nhà nước quản lý. Nên gia đình ông bà Tuấn L1 không có quyền sử dụng vào mục đích riêng.

    Toàn bộ công trình, vật kiến trúc nằm ngoài chỉ giới đất hợp pháp của ông Tuấn L1 thì gia đình ông bà Tuấn L1 phải có trách nhiệm tháo dỡ, giải phóng mặt bằng trả lại quyền sử dụng đất cho gia đình ông bà Hưng T5. Gia đình ông bà Tuấn L1 cũng phải tháo dỡ tường rào, 01 trụ cổng và cánh cổng sắt trong phạm vi chỉ giới đất đường giao thông để đảm bảo lối đi cho gia đình ông bà Hưng T5 theo quy định.

    Đại diện của UBND phường N tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đề nghị vắng mặt tại các buổi làm việc của Toàn án và tại phiên toà xét xử vụ án.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2024/DS-ST ngày 26/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ khoản 4 Điều 5, khoản 1 Điều 11, khoản 5 khoản 8 Điều 26, khoản 1, 5 Điều 31; Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Điều 175, 176 Bộ Luật dân sự năm 2015; Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 165, 228, 271, 273 Bộ Luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Xuân H và bà Nguyễn Thị T.

Buộc ông Trần Văn T1 và bà Đỗ Thị L phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng, vật kiến trúc trên phần diện tích S2 = 40,7 m² theo chỉ giới 7,8,9,10,11,12,13,7 thuộc thửa đất số 403 tờ bản đồ số 07 tại tổ F, khu F, phường N, TP V, tỉnh Phú Thọ để trả lại phần đất đã lấn chiếm 40,7m² cho ông Lê Xuân H và bà Nguyễn Thị T. ( Có sơ đồ hiện trạng kèm theo)

Buộc ông Trần Văn T1 và bà Đỗ Thị L phải tháo dỡ 01 trụ cổng xây bằng gạch chỉ được đánh dấu vị trí C2 trên sơ đồ hiện trạng kèm theo và 02 cánh cổng bằng sắt hộp trên phần diện tích đất S4 = 11,5m² theo chỉ giới 1,2,8,9,22,1 để trả lại lối đi ra đường giao thông của thừa đất số 403 tờ bản đồ số 07 tại tổ F, khu F, phường N, TP V, tỉnh Phú Thọ cho ông Lê Xuân H và bà Nguyễn Thị T. ( Có sơ đồ hiện trạng kèm theo)

Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Kháng cáo: Ngày 05/9/2024, bị đơn ông Trần Văn T1 kháng cáo, đề nghị xem xét lại toàn bộ nội dung bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2024/DS-ST ngày 26/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn T1 là bị đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà khi giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, kháng cáo đúng hạn luật định. Hội đồng xét xử đã xét xử đúng nguyên tắc, các bên đương sự đều thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 BLTTDS; Khoản 3 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:

Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 26/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Về án phí: Ông Trần Văn T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

(Chi tiết bài phát biểu của Viện kiểm sát lưu trong hồ sơ vụ án)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:

    Ngày 05/9/2024, bị đơn ông Trần Văn T1 kháng cáo, đề nghị xem xét lại toàn bộ nội dung bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2024/DS-ST ngày 26/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.

    Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn T1 là bị đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì. Xét thấy, kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn T1 trong thời hạn luật định, nội dung thay đổi kháng cáo không vượt quá phạm vi kháng cáo theo quy định tại khoản 2 điều 284 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định.

  2. Xét yêu cầu kháng cáo bản án sơ thẩm của bị đơn ông Trần Văn T1 đề nghị xem xét hủy toàn bộ nội dung bản án số: 40/2024/DS-ST ngày 26/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. HĐXX nhận thấy:
    1. Tại tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông Lê Xuân H và bà Nguyễn Thị T ủy quyền cho ông Tạ Hồng C1 làm người đại diện theo ủy quyền để giải quyết vụ án theo giấy ủy quyền ngày 14/10/2022. Đến ngày 09/8/2024 ông Lê Xuân H là nguyên đơn đã chết, theo đó việc đại diện theo ủy quyền của ông C1 cho ông H chấm dứt. Tuy nhiên, ông C1 và Tòa án cấp sơ thẩm không biết nên sau khi ông H chết, ngày 26/8/2024 Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì vẫn đưa vụ án ra xét xử cho ông C1 làm người đại diện theo ủy quyền mà không đưa hàng thừa kế thứ nhất của ông H vào tham gia tố tụng với tư cách kế thừa quyền và nghĩa vụ là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Vì vậy để vụ án được theo đúng trình tự tố tụng, giải quyết khách quan, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để tiến hành giải quyết lại theo quy định,
    2. Ngoài các tài liệu chứng cứ đã thu thập, trong quá trình giải quyết lại, Tòa án cấp sơ thẩm cần tiến hành thu thập, giải quyết thêm một số nội dung trong đó cần đề nghị cơ quan chuyên môn có chức năng kết luận trong trường hợp có căn cứ tuyên tháo dỡ các công trình trên phần diện tích đất có tranh chấp thì việc tháo dỡ có ảnh hưởng đến kết cấu của công trình còn lại không?

    Về việc tiến hành thẩm định đối với phần diện tích đất tranh chấp, ngoài phần công trình trên bề mặt nổi phía trên, Tòa án cấp sơ thẩm cần làm rõ phần chân móng của nhà ông T1 đang sử dụng có nằm trên phần diện tích đất tranh chấp không?

    Đối với Văn bản cam kết ngày 28/8/2019 tại Văn phòng C4 giữa bà Nguyễn Thị H4 và ông Trần Văn T1 cùng nhau thỏa thuận đối với diện tích đất 8m² nằm trong diện tích đất của anh Q. Trong trường hợp xác định được diện tích đất tranh chấp bao gồm cả phần diện tích đất này. Tòa án cấp sơ thẩm cần nhận định giải quyết đối với văn bản cam kết ngày 28/8/2019 để làm rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của bà Nguyễn Thị H4 và anh Nguyễn Hồng Q trong việc đền bù thiệt hại đối với ông Trần Văn T1 thì mới đảm bảo quyền lợi của đương sự và giải quyết triệt để trong vụ án này.

    1. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và người đại diện theo ủy quyền của ông T1 là phù hợp nên được chấp nhận.
    2. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của ông T1 được chấp nhận, ông T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

    Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 điều 284, khoản 3 Điều 308 và khoản 2 điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 3 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. [1] Chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của ông Trần Văn T1.

    Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2024/DS-ST ngày 26/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  2. [2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS thành phố Việt Trì;
  • - TAND thành phố Việt Trì;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/DS-PT ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất

  • Số bản án: 35/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Xuân H khởi kiện ông Trần Văn T về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger