|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ -TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2025/HS-ST Ngày: 03-04-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Du
Ông Nguyễn Văn Trình
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyên Khang - Thư ký Tòa án nhân dân
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa:
Ông Võ Văn Xử - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Số I đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2025/TLHS-ST ngày 06/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 14/3/2025 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN S - sinh ngày 18/7/1977 tại Hải Dương. Nơi cư trú: Khu dân cư V, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Đoàn Thị S1 (đã chết), vợ Hà Thị B (đã ly hôn), 01 con sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Bị Tòa án phúc thẩm tại Hà Nội - Toà án nhân dân tối cao xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản công dân” và 13 năm tù tội “Hiếp dâm” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 1725 ngày 29/10/1997.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Phạm Đăng T - Sinh năm: 1974. Nơi cư trú: Tổ C khu D A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Hoàng Công N - Sinh năm: 1979. Nơi cư trú: Khu dân cư B, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng trưa ngày 15/7/2022, Nguyễn Văn S làm phụ xe cho xe khách BKS: 14B - 031.58 thuộc nhà xe Đ chạy chuyến M (Quảng Ninh) - Đà Nẵng, lúc này trên xe có Phạm Đăng T và Lê Long T1 (sinh năm: 1982, trú: Thôn Y, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh) làm lái xe, Nguyễn Trung T2 (sinh năm: 1970, trú: Khu D, xã M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh) làm quản lý xe. Khi xe đón khách tại thành phố H, S nói T phụ giúp việc đưa hành lý lên xe nhưng T không đồng ý mà nói việc này của S, không liên quan T. T còn chửi, doạ đánh S nhưng S không trả lời. Sau đó, S tiếp tục làm việc trên chuyến xe từ M vào Đà Nẵng. Trên đường đi, Hoàng Công N (là bạn của S) liên hệ nói S cho đi nhờ xe vào Đà Nẵng để lấy xe tai nạn đang sửa và S đồng ý. Sau đó, xe đến đón N tại địa phận tỉnh Nghệ An và tiếp tục di chuyển vào Đà Nẵng. Khoảng sáng ngày 16/7/2022, xe khách đến B thành phố Đà Nẵng. Sau khi trả khách, cả năm người gồm T, T2, T1, N và S cùng đi thuê phòng tại nhà nghỉ S2 (số A đường Đ, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng) rồi cùng nhau vào quán cơm gần nhà nghỉ để ăn uống. Sau khi ăn cơm xong, T và T1 về nhà nghỉ trước. S về sau, còn N và T2 đi uống nước tại quán nước trước nhà nghỉ. Khi lên phòng, S thấy T1 đã ngủ, T còn thức. S liền hỏi T về việc tại sao T không phụ giúp S khiêng vác hành lý, T chửi S và hẹn S xuống trước nhà nghỉ để đánh nhau rồi bỏ đi trước. S bực tức vì thái độ của T nên mở túi hành lý, lấy ra 01 (một) cây kiếm bằng kim loại dài khoảng 70cm, màu đen, có vỏ bằng kim loại, cầm theo chạy xuống dưới nhà nghỉ với mục đích chém T. Khi xuống dưới nhà nghỉ, S thấy T đang đứng trên vỉa hè nên rút kiếm ra, xông vào chém T, T đưa tay lên đỡ thì bị chém trúng vùng cánh tay trái nên bỏ chạy. Sau đó, Trung lượm được 02 viên gạch trên vỉa hè ném về phía S nhưng không trúng. Lúc này, thấy T và S đang đánh nhau, N chạy đến dùng tay, chân đánh T phụ giúp cho S. T giật được vỏ bao kiếm trên tay S, cầm đánh lại S, N. Thấy thất thế, T bỏ chạy vào trong nhà nghỉ, khi đến trước quầy tiếp tân, N đuổi kịp T và dùng chân tay đánh T, sau đó, N ôm chặt người T lại để S dùng kiếm chém nhiều nhát trúng vào bàn tay, cánh tay, khuỷu tay của T. Đến khi thấy trên người Trung máu chảy ra nhiều, mọi người can ngăn nên S và N dừng lại rồi bỏ đi. Trên đường bỏ trốn vào Quảng Nam, S vút cây kiếm ven đường (không xác định được địa điểm cụ thể). Còn T được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đ1.
Theo Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 1041/KL-KTHS ngày 08/8/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng thì Phạm Đăng T bị thương tích vùng cẳng tay phải, cánh tay, khuỷu tay trái và ngón tay trái với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 20%. Thương tích nói trên do vật sắc tác động gây nên.
Đến ngày 08/01/2025, bị cáo S ra đầu thú.
Từ những tình tiết nêu trên, tại Cáo trạng số 38/CT-VKSCL ngày 05/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội là vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo S mức hình phạt từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Phạm Đăng T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn S bồi thường cho ông số tiền chi phí viện phí, sinh hoạt, đi làm và mất khả năng lao động trong những năm phải hồi phục sức khoẻ, vết thương, gây thiệt hại vật chất, khó khăn kinh tế là 150.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn S đã bồi thường cho ông T số tiền 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo S bồi thường số tiền mất thu nhập là 50.000.000 đồng, bị cáo S đồng ý bồi thường. Do đó, đề nghị HĐXX buộc bị cáo S bồi thường cho ông S số tiền 50.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S đã khai nhận hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ truy tố. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt.
Tại phiên tòa, bị hại Phạm Đăng T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn S bồi thường cho ông số tiền chi phí viện phí, sinh hoạt, đi làm và mất khả năng lao động trong những năm phải hồi phục sức khoẻ, vết thương, gây thiệt hại vật chất, khó khăn kinh tế là 150.000.000 đồng. Tuy nhiên theo khả năng và hoàn cảnh của bị cáo S, nên ông T chỉ yêu cầu bị cáo S bồi thường số tiền mất thu nhập là 50.000.000 đồng. Về hình phạt ông T đề nghị HĐXX xem xét mức án nghiêm khắc đối với bị cáo S.
Về nói lời sau cùng: Bị cáo Nguyễn Văn S hối hận về hành vi của mình, bị cáo còn nuôi con nhỏ sinh năm 2016, ba mẹ bị cáo đều đã mất, bị cáo mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội sửa chữa sai lầm, đi làm, khắc phục hậu quả cho bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố, xét xử của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng thu hồi được cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện tại hồ sơ vụ án, nên HĐXX có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng sáng ngày 16/7/2022, tại vỉa hè phía trước nhà nghỉ S2 ở địa chỉ: Số A đường Đ, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, xuất phát từ mâu thuẫn trong công việc, bị cáo Nguyễn Văn S đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là kiếm bằng kim loại chém nhiều nhát vào vùng cẳng tay phải, cánh tay, khuỷu tay trái và ngón tay trái của ông Phạm Đăng T, gây thương tích 20% (theo Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 1041/KL-KTHS, ngày 08/8/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng).
Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn S dùng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho ông T nên đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe, có nhận thức pháp luật và xã hội nhất định, bị cáo biết dùng kiếm bằng kim loại là hung khí nguy hiểm, nhưng vẫn có hành vi chém vào người bị hại. Hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo như nêu trên là rất nguy hiểm, không chỉ xâm phạm đến sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo S có nhân thân xấu là đã bị Tòa án phúc thẩm tại Hà Nội - Toà án nhân dân tối cao xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản công dân” và 13 năm tù tội “Hiếp dâm” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 1725 ngày 29/10/1997. Do đó, HĐXX xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần răn đe, đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo S đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải. Hơn nữa, bị cáo cũng đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại là ông Phạm Đăng T. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn S đã đầu thú về hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn đã được UBND phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương xác nhận. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, HĐXX cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Phạm Đăng T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn S bồi thường số tiền chi phí viện phí, sinh hoạt, đi làm và mất khả năng lao động trong những năm phải hồi phục sức khoẻ, vết thương, gây thiệt hại vật chất, khó khăn kinh tế là 150.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại ông T yêu cầu bị cáo S bồi thường số tiền mất thu nhập là 50.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn S đồng ý bồi thường cho bị hại, nên HĐXX chấp nhận.
Vì vậy, căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn S bồi thường thiệt hại cho ông Phạm Đăng T số tiền 50.000.000 đồng.
[5] Tại phiên tòa, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đề nghị áp dụng cho bị cáo Nguyễn Văn S là có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như đã phân tích nêu trên, nên HĐXX chấp nhận.
[6] Các vấn đề khác:
Đối với hành vi đồng phạm giúp sức của Hoàng Công N đã bị xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2023/HS-ST ngày 19/6/2023 của Tòa án nhân quận C, thành phố Đà Nẵng nên HĐXX không xem xét.
Đối với hành vi của ông Phạm Đăng T, Công an quận C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên HĐXX không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày 08/01/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự
Buộc bị cáo Nguyễn Văn S bồi thường thiệt hại cho ông Phạm Đăng T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày ông Phạm Đăng T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Văn S không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì bị cáo Nguyễn Văn S còn phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự cho đến khi thi hành xong.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Ngô Thị Thanh Tuyền |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về cố ý gây thương tích (hình sự)
- Số bản án: 35/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn S phạm tội cố ý gây thương tích
