TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2025/HS-STNgày: 03-4-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quốc Dũng;
Ông Huỳnh Thanh Hưng.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST–HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Thanh Đ, sinh năm 1995 tại Cà Mau. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp B, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; tạm trú: ấp Ông C, xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương; trình độ văn hóa: 02/12; nghề nghiệp: công nhân; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Trần Văn L và bà Ong Thị T; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10/01/2024 Tổ tuần tra kiểm soát đảm bảo trật tự an toàn giao thông Công an huyện B thực hiện nhiệm vụ tuần tra tại đường ĐT750 thuộc ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Thời điểm này lực lượng thấy Trần Thanh Đ (sinh năm 1995 trú tại: ấp B, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau) điều khiển xe mô tô biển số 69M1 – 254.21 lưu thông trên đường ĐT750 thuộc ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương nên lực lượng yêu cầu Đ dừng xe để kiểm tra nồng độ cồn. Sau đó Đ cung cấp cho lực lượng Cảnh sát giao thông một giấy phép lái xe “PET” hạng A1 số 96008007899 mang tên Trần Thanh Đ. Qua kiểm tra lực lượng nghi vấn giấy phép lái xe trên là giả nên đã trực tạm giữ giấy phép lái xe trên để xác minh làm rõ.
Vật chứng thu giữ:
- 01 giấy phép lái xe “PET” số 96008007899 hạng A1 họ và tên “Trần Thanh Đ” sinh năm 1995 nơi cư trú: X. Đ, H. N, T1 Cà Mau đề ngày 16/3/2021 (ký hiệu A).
- 01 xe mô tô biển số 69M1 – 254.21;
Ngày 29/01/2024 Công an huyện B đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 01/QĐ – TCGĐ trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định đối với một giấy phép lái xe “PET” số 96008007899 hạng A1 họ và tên “Trần Thanh Đ” sinh năm 1995 nơi cư trú: X. Đ, H. N, T1 Cà Mau đề ngày 16/3/2021 (ký hiệu A). Ngày 25/02/2024 Phòng K Công an tỉnh B ban hành kết luận số 813/KL – KTHS(TL) kết luận: 01 giấy phép lái xe “PET” số 96008007899 hạng A1 họ và tên “Trần Thanh Đ” sinh năm 1995 nơi cư trú: X. Đ, H. N, T1 Cà Mau đề ngày 16/3/2021 (ký hiệu A) là giả. Vụ việc đã được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra Đ khai nhận: Vào khoảng tháng 02/2021 Đ có làm tại công ty S thuốc ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương quá trình làm việc Điền có làm quen được với một đối tượng tên H (không rõ nhân thân, lai lịch). Do có nhu cầu làm giấy phép lái xe mô tô nên Đ nói với H hỏi xem có biết ở đâu làm giấy phép lái xe giả không thì H nói sẽ tìm giúp. Sau đó H kêu Đ cung cấp cho H một bản photo chứng minh nhân dân và hình ảnh cá nhân Đ và báo giá giấy phép lái xe hạng A1 có giá 1.200.000 đồng thì Đ đồng ý. Đến ngày 16/3/2024 đối tượng H đưa lại cho Đ một giấy phép lái xe giả mang tên Trần Thanh Đ, Đ nhận bằng lái và thanh toán số tiền 1.200.000 đồng cho H. Sau đó Đ sử dụng giấy phép lái xe này cho tới thời điểm bị lực lượng tuần tra phát hiện thu giữ.
Đối với đối tượng làm giấy phép lái xe giả tên H hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiến hành xác minh làm rõ khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với một xe mô tô biển số 69M1 – 254.21 qua xác minh là tài sản của Trần Thanh Đ nên ngày 15/03/2024 Công an huyện B đã trao trả lại phương tiện vi phạm cho Trần Thanh Đ.
Đối với 01 một giấy phép lái xe “PET” số 96008007899 hạng A1 họ và tên “Trần Thanh Đ” sinh năm 1995 nơi cư trú: X. Đ, H. N, T1 Cà Mau đề ngày 16/3/2021 (ký hiệu A) qua giám định được xác định là giả. Xét thấy đây là vật chứng của vụ án nên lưu hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 05/CT–VKSBB ngày 03/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Trần Thanh Đ về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, rút một phần quyết định truy tố bị cáo từ tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, các phần khác vẫn giữ nguyên. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Về hình phạt:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 04 (bốn) tháng.
- Về biện pháp tư pháp: Không đề nghị xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội và không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hanh vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 41 phút ngày 10/01/2024 lực lượng tuần tra kiểm soát đảm bảo trật tự án toàn giao thông Công an huyện B thực hiện nhiệm vụ tại đường ĐT750 thuộc ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương phát hiện Trần Thanh Đ điều khiển xe mô tô biển số 63M1–254.21 vi phạm điều khiển xe mà trong hơi thở có nồng độ cồn. Điền cung cấp cho lực lượng một giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Thanh Đ thông qua phương pháp giám định đủ cơ sở để xác định giấy phép lái xe “PET” số 96008007899 hạng A1 họ và tên “Trần Thanh Đ” là giấy phép lái xe giả. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng rút một phần quyết định truy tố bị cáo từ tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Như đã nhận định, hành vi của bị cáo chỉ cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự và không làm thay đổi điều khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố. Vì vậy căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng vì vậy Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn mà áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo. Từ đó, giúp bị cáo nhận thấy được sự khoan hồng của pháp luật, tự khắc phục lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng là có căn cứ chấp nhận một phần.
[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;
Các Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 298, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Đ phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thanh Đ số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thanh Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Duy |
Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 35/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
