Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS-ST

Ngày 27/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Văn Dậu, bà Lê Thị Thơm.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hạ Gia Thuận - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24 và 27/3/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 17/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 10/3/2025 đối với:

  1. Bị cáo: Hoàng Thị L, sinh năm 1975; Nơi đăng ký HKTT: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T và bà Trịnh Thị L1; Có chồng là Nguyễn Quang C và có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2007;

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại ở địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Bị hại: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1971; Trú tại: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quang C, sinh năm 1974; Trú tại: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
  4. Người làm chứng:
    1. Ông Nguyễn Quang C, sinh năm 1974; Trú tại: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
    2. Ông Hoàng Văn T2, sinh năm 1973; Trú tại: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
    3. Ông Hoàng Đắc S, sinh năm 1972; Trú tại: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
    4. Bà Hoàng Thị T3, sinh năm 1978; Trú tại: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 10 giờ ngày 25/5/2024 tại nhà Hoàng Thị L ở thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, bà Nguyễn Thị T1 và L xảy ra xô xát, tranh cãi do có mâu thuẫn từ trước. L đã dùng 01 kéo bằng kim loại đâm một nhát trúng vào ngực phải của bà T1 làm bà T1 bị thương.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 150/KH ngày 21/6/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B: “Bà Nguyễn Thị T1 vào viện ngày 25/5/2024, ra viện ngày 07/6/2024. Chẩn đoán: Vết thương hở của thành ngực trước bên phải. Vết thương gần dưới đòn gần khớp vai phải kích thước 1,5cmx0,5cm, độ sâu khó đánh giá; Bầm tím nhẹ vùng mặt trong cánh tay phải kích thước 3x3cm, không chảy máu; Vết thương thành ngực phải thấu ngực phải thông với khoang màng phổi phải còn chảy máu rỉ rả vào trong khoang màng phổi phải. 01 vết thương thùy đỉnh phổi phải dài 1,5cm, rộng 0,5cm, bờ gọn, đang chảy máu. Trong khoang màng phổi phải có khoảng 50mg máu cục và khoảng 200ml máu không đông.

Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực không tiêm thuốc cản quang (28/5/2024): Hình ảnh đụng dập nhu mô thùy trên phổi phải. Đám đông đặc thùy dưới phối trái. Xẹp phổi dạng dải hai phối. Tràn dịch - khí màng phổi phải. Sonde dẫn lưu màng phổi phải. Vỡ bờ dưới cung trước xương sườn 2 phải. Tràn khí dưới da thành ngực phải.

Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực không tiêm thuốc cản quang (03/6/2024): Hình ảnh tổn thương mờ đông đặc, mờ kính phổi phải. Xẹp phổi dạng dải, dày tổ chức kẽ hai phổi. Dịch khoang màng phổi phải. Khí thành ngực phải. Gãy không hoàn toàn xương sườn số 2 phải...”.

Tại Bản kết luận giám định số 77/KLTTCT-TTPY ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của bà Nguyễn Thị T1 kết luận: “Thương tích vùng ngực phải, cách 1/3 giữa xương đòn phải 7,4, kích thước 2,3cm x 0,5cm, bờ gọn, màu hồng sẫm, liền sẹo tốt, còn 02 vết chân chỉ khâu kích thước 2,3cm. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Nguyên tắc: 1 và 3. Mục I.2.= 2%.

Thương tích phẫu thuật mở màng phổi, đường nách giữa trước bên phải, tương ứng khoang liên sườn 5-6 phải, kích thước 9,5cm x 0,7cm, bờ gọn, màu hồng sẫm, liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.3.= 3%.

Diện thương tích dẫn lưu, đường nách giữa phải, tương ứng liền sườn 7-8 phải, kích thước 1,5cm x 0,9cm, bờ gọn, màu hồng sẫm, liền sẹo tốt. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Nguyên tắc: 1 và 3. Mục I.2.=2%.

Hình ảnh: Gãy cũ cung trước xương sườn 2 bên phải. Áp dụng chương 3 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương hệ hô hấp. Mục II.1.=2%

Hình ảnh: Đụng dập nhu mô thùy trên phổi phải; 01 vết thương thùy đỉnh phải; Tràn dịch – Khí màng phổi phải; Các dải tổn thương đông đặc kèm kính mờ rải rác phổi phải; dày tổ chức kẽ hai phổi; Xẹp phổi dạng dải hai phổi. Đối tượng đang trong quá trình điều trị phục hồi, chưa đánh giá được di chứng, biến chứng. Chưa đủ căn cứ xác định tỷ lệ % TTCT.

Hình ảnh: Mất liên tục không hoàn toàn cơ thành ngực trước vị trí khoang liên sườn 4-5 bên phải; Bệnh nhân khai cảm giác sờ giảm vùng lồng ngực bên phải. Không có căn cứ xác định tỷ lệ % TTCT.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị T1 tại thời điểm giảm định là: 9% (Chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

  • - Kết luận khác: Cơ chế do tác động ngoại lực trực tiếp bởi vật tày có mũi nhỏ nhọn.

Bản ảnh chiếc kéo gửi kèm theo Quyết định trưng cầu giám định số 1334/QĐ-ĐCSHS ngày 02/7/2024 của Công an huyện Y - tỉnh Bắc Ninh mà Cơ quan Công an thu giữ: Nhiều khả năng gây ra vết thương cho bà Nguyễn Thị T1 như Giấy chứng nhận thương tích số 150 ngày 21/06/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp”.

Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 109/KLTTCT-TTPY ngày 13/9/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của bà Nguyễn Thị T1 kết luận: “Các kết luận chính giám định bổ sung: Tổn thương màng phổi phải, hiện tại: Xơ hóa (dày dính) màng phổi phải, nhu mô phổi vùng đáy trước phổi phải. Là di chứng của dẫn lưu sau phẫu thuật Tràn dịch - Máu - Khí màng phổi phải. Áp dụng chương 3 tỷ lệ % tổn thưowng cơ thể do tổn thương hệ hô hấp. Mục III.1 và 4.* Ghi chú = 5,95%

01 vết thương thùy đỉnh phải dài 1,5cm; rộng 0,5cm. Áp dụng chương 3 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương hệ hô hấp. Mục IV.1.=6%.

Đo chức năng hô hấp: Theo dõi: Rối loạn thông khí hạn chế mức độ nhẹ. Không có căn cứ xác định tỷ lệ % TTCT.

Hình nốt đặc xương ở xương sườn số 7 phải. Không có mối liên quan với thương tích. Không có căn cứ xác định tỷ lệ % TTCT.

Hình ảnh: Đụng dập nhu mô tùy trên phổi phải, hiện tại không còn hình ảnh tổn thương; Tràn dịch - Khí màng phổi phải; Các dải tổn thương đông đặc kèm kính mờ rải rác phổi phải, hiện tại không còn hình ảnh tổn thương; dày tổ chức kẽ hai thùy dưới phổi trái, hiện tại không còn hình ảnh tổn thương; Xẹp phổi dạng dải hai phổi, hiện tại không còn hình ảnh tổn thương. Không có căn cứ xác định tỷ lệ % TTCT.

  • - Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị T1 tại thời điểm giám định được bổ sung là: 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
  • - Kết luận khác: Căn cứ Thông tư 22/09/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị T1 sau giám định bổ sung là 20% (Hai mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư”.

Tại bản kết luận giám định số 4853/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của V - Bộ C1 kết luận: “Không phát hiện thấy máu người bám dính trên chiếc kéo gửi giám định”.

Tại Công văn số 164/CV-PYT ngày 12/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B trả lời Công văn số 1909 ngày 10/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y: “Các thương tích về xương sườn số 2 bên phải của Nguyễn Thị T1 có các Kết luận không trùng khớp câu từ là do: Tổn thương được chụp ở các giai đoạn khác nhau “Từ ban đầu tổn thương xương đến các quá trình phục hồi xương”, cùng với đó là hướng chụp (chụp X.quang), lớp cắt (chụp CLVT) của máy chụp có nhiều cách đọc hình ảnh tổn thương.

Do vậy, hình ảnh “Gãy cũ cung trước xương sườn 2 bên phải” nêu trong bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 77/KLTTCT-TTPY ngày 12/07/2024; Gãy không hoàn toàn xương sườn 2 phải” theo như giấy chứng nhận thương tích số: 150 ngày 21/06/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B; Hình ảnh: “Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực không tiêm thuốc cản quang 28/05/2024; Vỡ bờ dưới cung trước xương sườn 2 phải”; “Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực không tiêm thuốc cản quang ngày 03/06/2024; Gãy không hoàn toàn xương sườn số 2 phải” theo như giấy chứng nhận thương tích số 150 ngày 21/06/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B cung cấp đối với Nguyễn Thị T1 là một thương tích.”

Tại Công văn số 30/CV-PYT ngày 18/02/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh B trả lời Công văn số 1919 ngày 12/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y: “Thương tích của bà Nguyễn Thị T1 có chiều hướng đâm: Từ ngực trước ra sau lưng, chếch xuống dưới (theo trục dọc cơ thể). Chếch từ phải sang trái (gần vuông góc với thành trước ngực)”.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 19/CT-VKSYP ngày 06/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Phong để xét xử bị cáo Hoàng Thị L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận:

Khi bà T1 vào trong nhà L, hai bên có nói chuyện thì bà T1 đứng dậy nhoài người về phía L và dùng tay phải tát vào má trái của L 01 phát. Thấy vậy ông Cấn hai vai của bà T1 để bà T1 ngồi xuống ghế. Lệ có chửi lại thì bà T1 lại tiếp tục đứng dậy giơ tay phải hướng về L. Bức xúc do bị đánh nên L cầm kéo ở trên bàn uống nước, hướng mũi kéo về phía bà T1 và chửi, khi đó bà T1 cầm vào cổ tay phải của L. Hai bên giằng co khiến chiếc kéo đâm vào phần ngực bên phải của bà T1 khiến bà T1 chảy máu. Sau đó cháu L khóc nên L đặt kéo xuống mặt bàn để dỗ cháu, bà T1 nhặt chiếc kéo trên bàn thì ông C giữ lại và ấn ngồi xuống ghế rồi dùng giấy bịt miệng vết thương cho bà T1. Một lúc sau bà T3 đến nhà L, ông C gọi bà T3 vào để đưa bà T1 đi viện. Lúc sau thì có ông T2 (anh trai L) và ông S (chồng bà T1) đến đưa bà T1 đi viện.

Bị hại trình bày:

Khi bà T1 gọi cửa thì ông C đi từ trong nhà ra mở cổng cho bà T1. Bà T1 nói với ông C “may quá có ông C ở nhà, tôi có hỏi bà này nói gì với ông S nhà tôi”. Lúc này, L chỉ tay vào mặt bà T1 và nói “mày ngồi xuống đây, tao nói cho mày nghe”. Bà T1 chỉ tay vào mặt L và nói “mày có im cho đứa cháu mày ngủ không?”. Ông C đứng bên tay trái bà T1 (cách khoảng 70cm) lao vào dùng hai tay ôm, ấn bà T1 ngồi xuống ghế còn L đứng đối diện bà T1 (cách khoảng 70cm) cúi xuống cầm 01 chiếc kéo bằng kim loại, kích thước khoảng 20cm, bằng tay phải giơ lên cao đâm từ trên xuống dưới trúng vào ngực phải của bà T1. Lúc này, ông C vẫn ôm ấn bà T1 xuống ghế và ngực bà T1 chảy máu. Bà T1 đứng dậy mở cửa nhưng không được do L giằng tay bà T1 còn ông Chính K cửa lại. Bà T1 lấy điện thoại gọi cho bà T3 nhưng không nói được gì rồi ngất đi.

Bà T1 không yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với ông C do bị cáo đã nhận lỗi và xin lỗi. Bà T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L. Bà T1 xác nhận đã ký vào Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Công an huyện Y đối với hành vi tát bị cáo L.

Trong quá trình điều tra bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.000.000.000 đồng bao gồm chi phí điều trị, thuốc men, tiền mất thu nhập của bà T1 và những người chăm sóc trong những ngày không lao động được; tiền tổn hại sức khỏe và tổn thất tinh thần. Bị hại cung cấp hóa đơn, chứng từ khám bệnh bao gồm tiền thuốc, viện phí là 19.592.024 đồng.

Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản tiền cụ thể như sau: Từ ngày 25/5/2025 đến ngày 07/6/2025 bà T1 nằm điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B. Từ ngày 11/6/2025 đến ngày 18/6/2025 nằm điều trị tại Trung tâm y tế huyện Y. Từ ngày 09/01/2025 đến ngày 20/01/2025 nằm điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B. Tổng cộng bà T1 nằm viện điều trị 34 ngày.

  • - Chi phí bồi dưỡng cơ thể trong thời gian điều trị: 34 ngày x 800.000 đồng/1 ngày = 27.200.000 đồng;
  • - Tiền thuê xe taxi đi khám và nằm viện 6.800.000 đồng, trong đó: T4 thuê xe đi viện (3 lần nằm viện): 6 lần x 300.000 đồng = 1.800.000 đồng;
  • T4 thuê xe đi khám tại các bệnh viện T5: 5 lần x 1.000.000 đồng = 5.000.000 đồng;
  • - Tiền mất thu nhập của bị hại trong thời gian nằm viện: 34 ngày x 1.500.000 đồng/1 ngày = 51.000.000 đồng;
  • - Tiền mất thu nhập của bị hại sau khi ra viện: 30 ngày x 1.500.000 đồng/1 ngày = 45.000.000 đồng;
  • - Tiền mất thu nhập của người chăm sóc trong thời gian nằm viện 82.000.000 đồng, trong đó:
    • Từ ngày 25/5/2025 đến ngày 07/6/2024 mỗi ngày cần 3 người chăm sóc, thu nhập bình quân mỗi người là 1.000.000 đồng/1 người/1 ngày: 3 người x 1.000.000 đồng x 14 ngày = 42.000.000 đồng;
    • Từ ngày 11/6/2024 đến ngày 18/6/2024 và từ ngày 09/01/2025 đến ngày 20/01/2025, mỗi ngày cần 2 người chăm sóc, thu nhập bình quân mỗi người là 1.000.000 đồng/1 người/1 ngày: 2 người x 1.000.000 đồng x 20 ngày = 40.000.000 đồng.
  • - Tiền mất thu nhập của người chăm sóc sau khi ra viện: 30 ngày x 750.000 đồng/1 người/1 ngày = 22.500.000 đồng;
  • - Tiền bồi dưỡng sức khỏe, thuốc sau khi ra viện: 30 ngày x 150.000 đồng/1 ngày = 4.500.000 đồng;
  • - Tiền bù đắp tổn thất tinh thần: 250.000.000 đồng;
  • - Tiền khám bệnh, mua thuốc có hóa đơn: 19.592.024 đồng.

Tổng số tiền bị cáo L phải bồi thường là 508.592.024 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Quang C đã thay bị cáo nộp 30.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong để bồi thường cho bị hại. Ông không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả cho ông số tiền này.

Người làm chứng ông Nguyễn Quang C trình bày:

đồng ý với toàn bộ lời khai của bị cáo tại phiên tòa và khẳng định ông không tác động gì vào người bà T1. Trong suốt thời gian diễn ra sự việc bản thân ông chỉ ngăn L và bà T1, ông không ôm bà T1 để cho L dùng kéo đâm.

Người làm chứng bà Hoàng Thị T3 trình bày:

Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 25/5/2024 bà đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi của bà T1. Khi bà T3 bắt máy thì không nghe thấy bà T1 nói gì nhưng bà nghe thấy giọng ông C (là chồng L) nói “Tôi bảo bà, bà ngồi xuống đây ông S nói lại với nào, đang ngồi với nhau lại đánh nhau được, tắt điện thoại đi”. Thấy vậy bà sang nhà ông C xem có việc gì. Khi sang đến nơi thì thấy cửa đóng, bà nhòm vào trong nhà thì L gọi bà vào nhà và nói “Thêu vào đây đóng cửa vào giữ nguyên hiện trường, con này mất dạy nó lên tận nhà tát tớ, gọi công an cho nó đi tù”. Sau đó bà T3 nhìn trên bàn uống nước có máu và nhìn thấy bà T1 ngồi bên trong ở ghế sát cửa ra vào, ông C ngồi bên ngoài đang giữ và cầm máu bà T1, bà T1 nhắm mắt gục xuống. Cụ thể vết thương ở đâu thì bà không nhìn rõ do nhà đóng kín cửa tối. Ngoài ra bà còn nhìn thấy chiếc kéo dính máu trên mặt bàn gần chỗ bà T1 đang ngồi. Bà có hỏi chuyện gì và bảo ông C mở cửa để bà ra ngoài gọi người đưa bà T1 đi viện. Sau đó có chồng bà T1 là ông S và anh trai của L là ông T2 đến chở bà T1 đi viện.

Người làm chứng ông Hoàng Đắc S trình bày:

Khoảng 10 giờ ngày 25/5/2024 ông đang ở nhà thì nghe giọng của một người đàn ông ở ngoài cổng gọi “Chú S ơi bà T1 bị ngã xe ở đoạn nhà ông bà C”. Nghe vậy ông đạp xe đi xem tình hình bà T1. Khi đến cổng nhà ông C bà L thì ông thấy ông Hoàng Văn T2 và bà Hoàng Thị T3 bê bà T1 đang bất tỉnh chảy máu ở vùng ngực lên xe máy. Lúc này ông chạy đến ngồi lên xe máy ôm bà T1 để ông T2 chở đi trạm y tế.

Người làm chứng ông Hoàng Văn T2 trình bày:

Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 25/5/2024 ông nhận được cuộc gọi từ em gái là Hoàng Thị L, L nói “Anh ơi lên nhà em, T1 nó vào tận nhà nó đánh em”. Nghe vậy ông lấy xe ra nhà L xem có chuyện gì. Khi đến nơi ông gặp bà T3 đang đứng ở cửa nhà L. Thấy cửa nhà L mở ông chạy vào xem thì thấy bà T1 ngồi ở ghế gỗ nhỏ ở phòng khách, lưng ghế quay ra mặt đường đê, còn ông C đang lấy giấy lau vết thương cho T1. Ông và ông C cùng bảo đưa T1 ra trạm y tế xem vết thương như thế nào. Ông ra cửa lấy xe, còn ông C, bà T3 và ông H bê bà T1 ra. Lúc này ông S, con dâu và con trai đến. Ông nghe ông S có nói “Con này cứ hay đi cãi nhau”, sau đó ông lái xe chở bà T1 và ông S ngồi sau ôm bà T1 ra trạm y tế xã T. Đến nơi, trạm y tế nói phải đưa lên tuyến trên nên ông cùng ông S và con trai ông S đưa bà T1 lên xe ô tô để đi lên Bệnh viện đa khoa tỉnh. Sau đó ông về nhà ông C bảo ông C cùng gia đình bà T1 lên bệnh viện xem thế nào.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị L phạm tội “Cố ý gây thương tích".
  • Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Thị L từ 28 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại từ 116.603.600 đồng đến 128.483.600 đồng.
  • Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy 01 chiếc kéo và mẫu tóc còn lại sau giám định của bà Nguyễn Thị T1.

Lưu trong hồ sơ vụ án đĩa DVD hỏi cung bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người liên quan không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
  2. [2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng hơn 10 giờ ngày 25/5/2024 tại nhà Hoàng Thị L ở thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, bà Nguyễn Thị T1 và bị cáo L xảy ra xô xát, tranh cãi do có mâu thuẫn từ trước. Bà T1 đã dùng tay tát L một cái vào má nên L đã dùng 01 kéo bằng kim loại là hung khí nguy hiểm đâm một nhát trúng vào ngực phải của bà T1 khiến bà T1 bị thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hoàng Thị L phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố.
  3. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự và áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  4. [4] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

    Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Trong giai đoạn điều tra, bị cáo và gia đình đã đến gặp bị hại nhiều lần để xin lỗi và bồi thường nhưng bị hại không nhận nên đã nộp 30.000.000 đồng tại cơ quan Thi hành án dân sự để bồi thường cho bị hại. Bố bị cáo tham gia kháng chiến chống Mỹ và được tặng huy chương kháng chiến hạng nhất. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo cũng có một phần lỗi của bị hại, đó là bị hại đến nhà bị cáo và dùng tay tát bị cáo. Tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  5. [5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới giúp bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
  6. [6] Về trách nhiệm dân sự:

    Bị hại yêu cầu bị cáo L phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm các khoản như sau:

    Bà T1 nằm điều trị tại Bệnh viện 34 ngày, trong đó tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B từ ngày 25/5/2024 đến ngày 07/6/2024 và từ ngày 09/01/2025 đến ngày 20/01/2025, Trung tâm y tế huyện Y từ ngày 11/6/2024 đến ngày 18/6/2024.

    • - Chi phí khám bệnh tại bệnh viện gồm thuốc, viện phí có hóa đơn: 19.592.024 đồng và chi phí thuê xe khám bệnh 6.800.000 đồng. Các khoản chi phí này là chính đáng và là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
    • - Bà T1 yêu cầu bồi thường chi phí bồi dưỡng sức khỏe 34 ngày nằm viện, mỗi ngày 800.000 đồng là 27.200.000 đồng. Căn cứ vào Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định Chi phí bồi dưỡng cho người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án. Tại Điều 3 Nghị định 74/2024 ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định tại tỉnh Bắc Ninh áp dụng lương tối thiểu vùng II theo tháng là 4.410.000 đồng/26 ngày = 169.600 đồng/ngày. Vì vậy, chi phí bồi dưỡng sức khỏe của bà T1 chỉ được chấp nhận là 34 ngày x 169.600 đồng/ngày = 5.766.400 đồng.
    • - Tiền mất thu nhập của người chăm sóc:
      • Trong thời gian 34 ngày bà T1 nằm điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B và Trung tâm y tế huyện Y mỗi ngày cần có 02 người chăm sóc. Những người chăm sóc bà T1 đều làm nghề tự do, không có tài liệu chứng minh về thu nhập nên chỉ chấp nhận theo ngày lương tối thiểu vùng quy định tại Nghị định 74/2024 ngày 30/6/2024 của Chính Phủ: 2 người x 34 ngày x 169.600 đồng/ngày = 11.532.800 đồng.
      • Trong thời gian 30 ngày bà T1 điều trị tại nhà sau khi xuất viện mỗi ngày có 01 người chăm sóc: 1 người x 30 ngày x 169.600 đồng/ngày = 5.088.000 đồng.
    • - Tiền mất thu nhập của bà T1: Bà T1 làm nghề tự do, không có tài liệu chứng minh về thu nhập nên tiền thu nhập thực tế bị mất cũng áp dụng ngày lương tối thiểu vùng II là 169.600 đồng x 64 ngày = 10.854.000 đồng (Trong đó có 34 ngày nằm viện, 30 ngày điều trị tại nhà).
    • - Tiền bù đắp tổn thất tinh thần: 2.340.000 đồng x 15 lần = 35.100.000 đồng (Theo quy định tại Nghị định số 73/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2024 là 2.340.000 đồng).

    Tổng số tiền bị cáo L phải bồi thường cho bà T1 là 94.733.000 đồng, được trừ vào số tiền 30.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0000937 ngày 06/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong nên số tiền bị cáo phải bồi thường là 64.733.000 đồng.

  7. [7] Về xử lý vật chứng: 01 chiếc kéo và mẫu tóc còn lại sau giám định của bà Nguyễn Thị T1 không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
  8. [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi của ông Nguyễn Quang C: Quá trình điều tra xác định khi xảy ra sự việc ông C chỉ can ngăn, không có mục đích ôm, giữ bà T1 để cho L thực hiện hành vi gây thương tích cho bà T1. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xem xét, xử lý đối với ông C là phù hợp.

Đối với hành vi của bà Nguyễn Thị T1 dùng tay tát Hoàng Thị L. Ngày 16/10/2024 Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với bà T1 về hành vi: “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ với hình thức phạt tiền 6.500.000 đồng là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  • Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Xử phạt bị cáo Hoàng Thị L 26 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Buộc bị cáo L phải bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 94.733.000 đồng, được trừ vào số tiền 30.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0000937 ngày 06/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong nên số tiền bị cáo phải bồi thường là 64.733.000 đồng.
  • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  • Tịch thu và tiêu hủy 01 chiếc kéo và mẫu tóc còn lại sau giám định của bà Nguyễn Thị T1.
  • Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 3.236.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND huyện Yên Phong;
  • - Trại giam;
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 35/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị L cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger