Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỜ ĐỎ

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-3-2025

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Ngọc Lam Điền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huệ

Ông Phạm Hồng Lưu

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 306/2024/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1973

Địa chỉ: Số G, ấp T, xã T, huyện C, TP ..

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1972

Địa chỉ: Số G, ấp T, xã T, huyện C, TP ..

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T1 do tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn được UBND xã T, huyện T, TP Cần Thơ (cũ) cấp giấy Chứng nhận kết hôn số 91, ngày 01/07/2004.

Trình bày về quá trình chung sống: Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến năm 2016 bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T1 có mối quan hệ với người phụ nữ khác và gây ra nhiều khoản nợ. Bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông T1 không thay đổi. Cả hai không còn tìm

được tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không còn hạnh phúc. Nhận thấy không còn khả năng hàn gắn và tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.

Về con chung: Có 07 con chung là: Nguyễn Thị Việt T2 (nữ) sinh ngày 16/02/1996, Nguyễn Thị Hồng G (nữ) sinh ngày 16/6/1998, Nguyễn Ngọc L (nữ) sinh ngày 14/5/2000, Nguyễn Thị X (nữ) sinh ngày 16/6/2004, Nguyễn Thị Hồng Đ (nữ) sinh ngày 29/04/2006, Nguyễn Ngọc Thảo D (nữ) sinh ngày 18/03/2014, Nguyễn Thị T3 (nữ) sinh ngày 24/02/2017. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Ngọc Thảo D và Nguyễn Thị T3, yêu cầu bị đơn cấp dưỡng 3.000.000 đồng/ tháng/ con chung cho đến khi 02 con trưởng thành. Các con chung còn lại nguyên đơn không yêu cầu do các con đã trưởng thành.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Văn T1, bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Ngọc Thảo D và Nguyễn Thị T3, có thay đổi yêu cầu cấp dưỡng, chỉ yêu cầu ông T1 cấp dưỡng 2.000.000 đồng/ tháng/ con chung cho đến khi 02 con trưởng thành.Về con chung, tài sản chung không có nên không yêu cầu.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do là tự tước đi quyền và lợi ích của mình. Nên, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật và dành quyền kháng cáo đối với bị đơn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn giữa công dân với công dân; bà Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Văn T1, nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn”, quan hệ tranh chấp này thuộc Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện C, Thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Xét việc vắng mặt bị đơn, bị đơn ông Nguyễn Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt. Nên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ kiện vắng mặt bị đơn theo quy định.

Do vụ kiện Tòa án không có thực hiện thủ tục thu thập chứng cứ, chứng cứ do đương sự cung cấp nên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ không phải tham gia phiên tòa theo Khoản 2 điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét tính hợp pháp: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn được UBND xã T, huyện V, TP Cần Thơ (cũ) cấp giấy Chứng nhận kết hôn số 91 vào ngày 01/07/2004, nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Xét về chứng cứ và nội dung giải quyết vụ kiện: Nguyên đơn trình bày nguyên đơn và bị đơn đã có thời gian dài chung sống vợ chồng với nhau, đồng thời giữa nguyên đơn và bị đơn cũng có nhiều mâu thuẫn kéo dài, không tìm được biện pháp nào để hàn gắn, cả hai đã sống ly thân nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn như lúc đầu, không thể chung sống với bị đơn nữa nên yêu cầu được ly hôn với bị đơn.

Hội đồng xét xử xét: Nguyên tắc của hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, các thành viên trong gia đình phải có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng xây dựng hạnh phúc gia đình. Nhưng giữa nguyên đơn và bị đơn đã không còn sự tin yêu, quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, về cách đối xử vợ chồng trong cuộc sống hàng ngày không hòa hợp. Hội đồng xét xử thấy quá trình Tòa án giải quyết đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn để tạo điều kiện hòa giải cho các bên đoàn tụ. Tuy nhiên, bị đơn vẫn vắng mặt, điều này chứng tỏ bị đơn không còn tha thiết với cuộc hôn nhân này, nếu duy trì cuộc hôn nhân này mục đích hôn nhân vẫn không đạt được, nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2014); nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa ông - bà là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T yêu cầu xin ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn T1 là có cơ sở chấp nhận.

[5] Về con chung: Theo nguyên đơn trình bày có 07 con chung tên Nguyễn Thị Việt T2 (nữ) sinh ngày 16/02/1996, Nguyễn Thị Hồng G (nữ) sinh ngày 16/6/1998, Nguyễn Ngọc L (nữ) sinh ngày 14/5/2000, Nguyễn Thị X (nữ) sinh ngày 16/6/2004, Nguyễn Thị Hồng Đ (nữ) sinh ngày 29/04/2006, Nguyễn Ngọc Thảo D (nữ) sinh ngày 18/03/2014, Nguyễn Thị T3 (nữ) sinh ngày 24/02/2017. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Thảo D và Nguyễn Thị T3, các con còn lại do đã trưởng thành nên không yêu cầu. Xét thấy, hiện nay hai con chung Nguyễn Ngọc Thảo D và Nguyễn Thị T3 đang sống chung với bà T, đồng thời trong bản tự khai cháu D và cháu T3 có mong muốn được tiếp tục ở với mẹ. Căn cứ Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung, nên giao hai con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đồng/tháng/con chung. Tại phiên tòa nguyên đơn có thay đổi mức yêu cầu cấp dưỡng là 2.000.000đồng/tháng/con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, theo quy định tại Điều 82, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Cho nên, việc bà T yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con là phù hợp. Đối với mức cấp dưỡng nuôi con, ngoài căn cứ vào nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng thì cũng cần căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, bà T cho rằng ông T1 có công việc và thu nhập ổn định nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh được thu nhập, khả năng thực tế cụ thể của bị đơn ông T1. Phía bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến lời khai của bị đơn. Trong trường hợp này, do phía bà T không chứng minh được thu nhập thực tế, khả năng thực tế của ông T1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cáo hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì mức cấp dưỡng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con. Căn cứ Điều 3 Nghị định số: 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ, mức lương tối thiểu vùng tại huyện C, thành phố Cần Thơ là 3.860.000 đồng, ½ là 1.930.000 đồng, Việc bà T yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng/con chung là phù hợp, vì vậy Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về cấp dưỡng nuôi con, buộc bị đơn ông T1 cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng/con chung đối với hai con chung Nguyễn Ngọc Thảo D và Nguyễn Thị T3 cho đến khi hai cháu tròn 18 tuổi.

Vì quyền lợi của trẻ em, nếu các đương sự thực hiện việc trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên không tốt thì có thể yêu cầu Tòa án thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu được thay đổi cấp dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Nguyễn Văn T4. Không ai được quyền ngăn cản ông T4 thực hiện quyền này.

[6] Về tài sản chung và nợ chung:

Về tài sản chung: Nguyên đơn xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Nguyên đơn xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong trường hợp này do bị đơn vắng mặt nên tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có tranh chấp và đương sự có yêu cầu.

[7] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ áp dụng:

  • - Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 174; Điều 175; Điều 179; Điều 238; Điều 266; Điều 267; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 51, 56, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2014);
  • - Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T5 (Quy định về án phí, lệ phí Tòa án),

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp ly hôn của bà Nguyễn Thị T với ông Nguyễn Văn T1 như sau:

  • · Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.
  • · Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Nguyễn Ngọc Thảo D (nữ) sinh ngày 18/03/2014 và Nguyễn Thị T3 (nữ) sinh ngày 24/02/2017 cho bà Nguyễn Thị

T trực tiếp nuôi dưỡng. Các con chung còn lại do đã trưởng thành, nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

  • -Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với hai con tên Nguyễn Ngọc Thảo D (nữ) sinh ngày 18/03/2014 và Nguyễn Thị T3 (nữ) sinh ngày 24/02/2017 với số tiền cấp dưỡng là 2.000.000đồng/tháng/con chung cho đến khi hai con chung tròn 18 tuổi. Thời gian bắt đầu cấp dưỡng được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Vì quyền lợi của trẻ em, nếu các đương sự thực hiện việc trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên không tốt thì có thể yêu cầu Tòa án thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu được thay đổi cấp dưỡng và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Nguyễn Văn T1. Không ai có quyền ngăn cản ông T1 thực hiện quyền này.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

  • - Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu 0008443, ngày 24/12/2024 thành án phí. Nguyên đơn đã nộp xong án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  • - Về án phí cấp dưỡng: Bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với đương sự có mặt và kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ kiện theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Cần Thơ;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Cờ Đỏ;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự H. Cờ Đỏ;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã T, H. Cờ Đỏ, TP Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Lam Điền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa bà T và ông T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger