Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 35/2025/HS-ST

Ngày 24 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đinh Thị Vân Anh

Ông Đào Văn Khanh

Ông Phạm Đức Mạnh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên là điểm cầu trung tâm và Phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh H là điểm cầu thành phần. Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1986

Nơi sinh và nơi cứ trú: Tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tuấn Ú và bà Trương Thị H1; Vợ: Phạm Thị Thu H2 ( đã ly hôn); Con: Có 02 con lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010;

Tiền án: Ngày 27/01/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 13 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy ( Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2023).

Tiền sự: Ngày 28/6/2023 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời hạn 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân: Ngày 28/01/2019 bị Công an thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

H bị tạm giữ từ ngày 28/12/2024, đến ngày 31/12/2024 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

Ông Phạm Văn T, sinh năm 1979

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Ông Đỗ Thành T1, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1986 ở Tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên là đối tượng đã có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và là đối tượng nghiện ma túy, loại Heroin.

Khoảng 9 giờ ngày 28/12/2024 H đi xe ôm của người đàn ông khoảng 40 tuổi không rõ tên, địa chỉ từ nhà ở Tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên đến khu vực Nhà văn hóa huyện V, tỉnh Hưng Yên, gần đến nơi H trả tiền xe ôm hết 100.000 đồng rồi bảo người xe ôm đi về, còn H đi bộ ở đường, khi H đang đi thì gặp một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ, người này cũng có biểu hiện nghiện ma túy, H đi lại gần hỏi: “Có hàng không, để tôi 01 quả”, nghĩa là có ma túy bán không, người đàn ông trả lời “Có, 200.000 đồng một quả”, H đưa cho người đàn ông số tiền 200.000 đồng, người đàn ông cầm tiền cất vào trong người và bảo hàng để ở tường rào gần chỗ Hộp kỹ thuật điện lực, vào đấy mà lấy rồi người đàn ông bỏ đi. H đi ra chỗ tường rào Hộp kỹ thuật điện lực lấy 01 gói ma túy, bên trong có Heroine được gói trong mảnh nylon màu trắng, H cầm gói Heroine đó trên tay trái rồi đi bộ trên trục đường ĐH18 thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện V tìm chỗ vắng người để sử dụng. Khoảng 12 giờ cùng ngày khi H đang đi thì bị Tổ công tác Công an xã Đ, huyện V kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ những vật chứng gồm: T2 tại tay bên trái của H 01 gói nylon màu trắng, bên trong chứa chất bột kết tinh màu trắng dạng cục và bột (niêm phong ký hiệu M1).

Ngày 28/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tuấn H tại Tổ dân phố C, phường B, thị xã M, kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

Tại kết luận giám định sơ bộ số 802 ngày 28/12/2024 và Kết luận giám định số 802 ngày 31/12/2024 của phòng K Công an tỉnh H kết luận: “Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có khối lượng 0,548g (Không phẩy năm bốn tám gam) là ma túy, loại Heroin

Hoàn lại mẫu vật trong một niêm phong ghi số 802, bên trong có 0,525g (không phẩy năm hai năm gam là ma túy, loại Heroin).

Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định của Phòng K - Công an tỉnh H. Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện V đã nhập kho vật chứng của Công an huyện V để chờ xử lý theo quy định.

Đối với đối tượng H khai bán trái phép chất ma túy cho H vào ngày 28/12/2024, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch, địa chỉ của người đã bán trái phép ma túy cho H nên tiếp tục xác minh có căn cứ sẽ giải quyết sau theo quy định.

Bị cáo Nguyễn Tuấn H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, bị cáo khai tàng trữ ma túy, loại Heroin với mục đích để sử dụng.

Bản cáo trạng số 36/CT-VKS, ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai báo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn H từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 802/KL-KTHS (MT)PC09 của Phòng K, Công an tỉnh H ( bên trong gồm 0,525g ma túy, loại Heroin trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 01 mảnh giấy màu trắng gói ma túy; 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định).

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đều đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và lời khai người làm chứng, với các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 giờ ngày 28/12/2024, tại đường ĐH18 thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Tuấn H đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,548g ma túy, loại Heroin để sử dụng thì bị Công an xã Đ bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng liên quan.

Hành vi tàng trữ 0,548g ma túy loại Heroin để sử dụng như nêu ở trên của Nguyễn Tuấn H đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy nói chung và H3 nói riêng. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hiện nay, các tội phạm về ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng rất lớn đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Ma túy đang là mối hiểm họa của toàn xã hội nên Nhà nước đã có nhiều chính sách từ tuyên truyền, vận động đến chế tài xử lý nghiêm khắc mọi hành vi liên quan đến ma túy. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 13 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; năm 2023 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường thời hạn 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và năm 2019 bị Công an thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy biết rõ tác hại của ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân nay lại tiếp tục phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật, không coi trọng sức khỏe của bản thân, vì vậy đối với hành vi phạm tội lần này của bị cáo cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

· Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ...” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy không có công việc, thu nhập ổn định. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 802/KL-KTHS (MT)PC09 của Phòng K, Công an tỉnh H (bên trong gồm 0,525g ma túy, loại Heroin trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 01 mảnh giấy màu trắng gói ma túy; 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định).

Đối với đối tượng H khai bán trái phép chất ma túy cho H vào ngày 28/12/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện V đã xác minh nhưng chưa rõ nhân thân, lai lịch, đang tiếp tục điều tra xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Khoản 1 Điều 46; Khoản 1 Điều 47; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn H 02 ( hai) năm 09 ( chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2024.

Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 802/KL-KTHS (MT)PC09 của Phòng K, Công an tỉnh H (bên trong gồm 0,525g ma túy, loại Heroin trong niêm phong ghi ký hiệu M1; 01 mảnh giấy màu trắng gói ma túy; 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định).

(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lâm)

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh (Phòng KTNV và THA);
  • - VKS huyện Văn Lâm;
  • - Công an huyện Văn Lâm;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Lâm;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Vân Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 35/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn H tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger