Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS-ST

Ngày: 20 - 03 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi

Bà Nguyễn Thị Luận

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Bạch Lê Dũng – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Tuấn Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Ngọc T, sinh năm 1997.

Nơi đăng ký HKTT: thôn T, xã L, huyện T, Thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; con ông Trần Thông T1 và bà Nguyễn Thị S; vợ: Hồ Thị H và 02 con (lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2024).

D chỉ bản số: 754 lập ngày 25/10/2024 tại Công an huyện C, Thành phố Hà Nội.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Bản án Hình sự phúc thẩm số: 21/2021/HSPT ngày 12/01/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt Trần Ngọc T 20 (Hai Mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 (Bốn mươi) tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (phạm tội ngày 25/02/2020). Đã nộp án phí theo số biên lai số: 1548 ngày 22/3/2021. Chưa được xóa án tích.

Nhân thân:

+ Bản án Hình sự sơ thẩm số: 108/2024/HSST ngày 21/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội xử phạt Trần Ngọc T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (ngày phạm tội 15/5/2024). Thời hạn tù tính từ ngày 21/05/2024.

+ Bản án Hình sự sơ thẩm số: 18/2025/HS-ST ngày 12/02/2025, Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội xử phạt Trần Ngọc T 36 (Ba Mươi sáu) tháng

tù về tội “Trộm cắp tài sản” (ngày phạm tội 04/9/2022). Tổng hợp với hình phạt 20 (Hai mươi) tháng tù của Bản án Hình sự phúc thẩm số: 21/2021/HSPT ngày 12/01/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội và hình phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù của Bản án Hình sự sơ thẩm số: 108/2024/HSST ngày 21/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Buộc Trần Ngọc T phải chịu hình phạt chung của ba bản án là 06 (Sáu) năm 08 (T2) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/05/2024.

Bị cáo Trần Ngọc T đang chấp hành án tại trại giam S1 – Bộ C (theo Bản án Hình sự sơ thẩm số: 108/2024/HSST ngày 21/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội).

Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P – Thành phố Hà Nội.

Bị cáo Trần Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người bị hại: Anh Lê Thành Đ, sinh năm 1981.

Nơi cư trú: xóm T, thôn P, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội. Xin vắng mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Vũ Văn N, sinh năm 1989

Cư trú: tổ dân phố B, M, phường T, quận N, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Công ty TNHH T4

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn H1, sinh năm 1975

Cư trú: tổ dân phố C, C, phường C, quận B, Thành phố Hà Nội.

2. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1992

Cư trú tại: thôn T, xã X, huyện S, TP Hà Nội.

3. Anh Nguyễn Sỹ H2, sinh năm 1992

Cư trú tại: thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.

4. Anh Nguyễn Xuân Đ1, sinh năm 2007

Cư trú tại: thôn T, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2024, Trần Ngọc T làm thuê thời vụ lái máy múc cho anh Lê Thành Đ để thi công nạo vét mương nước tại xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội. Đến tháng 4/2024, trong quá trình thi công, T nhìn thấy 02 xe rơ moóc (dạng xe kéo tự chế) để tại nhà văn hóa thôn P thuộc xã P, huyện C nhưng không có ai trông coi, T nảy sinh ý định trộm cắp 02 xe rơ mooc bán lấy tiền ăn chơi.

Sáng ngày 18/5/2024, Trần Ngọc T đi chơi ở khu vực xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội và sử dụng mạng xã hội để tìm kiếm, tải về hình ảnh 02 xe rơ moóc tự chế có đặc điểm tương tự như 02 xe rơ moóc để tại nhà văn hóa thôn P, xã P, huyện C. Sau đó,

T sử dụng số thuê bao 0867776407 (đăng ký tên Hồ Thị H là vợ của T do chị H đưa cho T sử dụng từ trước) để liên lạc, gửi hình ảnh 02 rơ moóc tự chế đã tải về qua ứng dụng Zalo với anh Nguyễn Văn T3 hiện đang làm nghề thu mua phế liệu tại thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh) và anh T3 sử dụng số thuê bao 0353.311.008, tài khoản Zalo được T lưu là “T” để thỏa thuận bán 02 xe rơ moóc cho anh T3 nhưng không nói về nguồn gốc các xe trên từ đâu mà có, anh T3 đồng ý mua. Cả hai cùng nhau thỏa thuận khi nào hàng chuyển đến thì cân hàng và trả trước tiền cho T là 5.000.000 đồng (trong đó 3.000.000 đồng trực tiếp trả tiền cho lái xe cẩu và 2.000.000 đồng trả vào tài khoản cho T, theo số tài khoản của T là 0867776407 tại Ngân hàng TMCP Q) số tiền còn lại khi nào T đến thì anh T3 sẽ trả hết, tuy nhiên anh T3 chưa chuyển tiền. Sau khi đã thỏa thuận xong, T tiếp tục sử dụng phần mềm định vị để ghim vị trí nhà văn hóa thôn P, xã P, huyện C vào điện thoại cá nhân rồi tìm kiếm trên mạng xã hội thấy Công ty TNHH T4 do anh Đỗ Văn H1 làm giám đốc nên T đã gọi điện đến để thuê Công ty phân công người đến chở hàng tôn từ nhà văn hóa thôn P đến huyện T, tỉnh Bắc Ninh với giá 2.000.000 đồng. Tuy nhiên, do không có xe ở Công ty, nên anh H1 đã chuyển lại đơn hàng này cho anh Vũ Văn N và bảo anh N “Anh nhận chở hàng và báo giá 2.000.000 đồng, có gì em và người có số điện thoại 0867.776.xxx trực tiếp làm việc với nhau”. Sau đó, anh N sử dụng điện thoại 0961.052.xxx của anh N gọi đến số thuê bao 0867776407 của T, được T hướng dẫn anh N đi lấy hàng từ xã P đến tỉnh Bắc Ninh. Cả hai nhất trí hợp đồng chở hàng và kết bạn ứng dụng Zalo, gửi vị trí Ủy ban nhân dân xã P cho anh N, hai bên thỏa thuận với giá 3.000.000 đồng.

Sau khi thống nhất nhận chở hàng, anh N gọi điện cho anh Nguyễn Chí H3 là lái xe ô tô cẩu biển kiểm soát 29H-054.41 cho anh N và phụ xe là anh Nguyễn Xuân Đ1 giao cho anh H3 cùng anh Đ1 điều khiển xe ô tô cẩu biển kiểm soát 29H- 054.41 đến Ủy ban nhân dân xã P, huyện C chở 02 xe rơ moóc đến tỉnh Bắc Ninh và thu 3.000.000 đồng theo đơn đặt hàng của T và gửi số điện thoại để chủ động liện hệ trực tiếp với T. Nhận việc anh N giao, anh H3 và anh Đ1 đã điều khiển xe ô tô cẩu biển kiểm soát 29H - 054.41 đi đến Ủy ban nhân dân xã P, huyện C theo vị trí mà T đã gửi. Khi đến Ủy ban nhân dân xã P, huyện C thì anh H3 gọi điện cho T và được T cung cấp vị trí bốc hàng tại nhà văn hóa thôn P, xã P, huyện C. Khi đến vị trí đã hướng dẫn thì anh H3 thấy 02 xe rơ moóc tự chế để gần cổng và gọi điện cho T nói “Anh ra đi, em tới rồi!”, T trả lời “Anh đang đi xin giấy trong ủy ban để lấy tôn, em xem có cẩu được hai cái xe đẩy lên một chuyến không?”. Anh H3 nói “Em cẩu được!”, T trả lời tiếp “Nếu cẩu được thì cẩu lên, anh đang xin giấy tờ rồi anh ra!” và nhắn tin cho anh H3 số điện thoại 0353.311.xxx, vị trí của anh Nguyễn Văn T3 để Hoàng bốc hàng chở đến thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Khi anh H3 và anh Đ1 vừa cẩu được 02 xe rơ moóc lên thùng thì anh Lê Thành Đ đi đến nói “Sao lại cẩu xe của anh đi?” thì anh H3 trả lời “Cái này em cũng không rõ, có người gọi điện bảo em cẩu lên!”, anh Đ nói “Xe của anh, người nào bảo cẩu?”, thì anh H3 đưa số điện thoại của T và thấy tin nhắn của T gửi địa chỉ người nhận kèm số điện thoại 0353.311.xxx. Anh H3 gọi điện lại cho T nói

“Em đang bốc hàng thì có người ra giữ lại, hàng này của ai?” thì T nghe xong biết bị phát hiện nên tắt điện thoại. Sau đó, anh Lê Thành Đ yêu cầu anh H3 hạ xe rơ moóc xuống và trình báo công an xã P.

Cơ quan điều tra phối hợp cùng Công an xã P tiến hành làm rõ và thu giữ vật chứng.

* Vật chứng thu giữ:

- 02 (hai) xe rơ moóc tự chế bằng sắt vụ, tổng trọng lượng 1.175kg.

- 01 (một) xe ô tô cẩu tự hành nhãn hiệu ISUZU, biển kiểm soát 29H - 054.41.

- 01 (một) điện thoại Iphone 13 promax, màu xanh, số IMEI: 354786252164898, có sim 0961052626 của anh Vũ Văn N.

- 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy, màu xanh, số IMEI: 352828296865098, có sim 0924851111 của anh Vũ Văn N.

- 01 (một) điện thoại Iphone 14 promax, màu tím, số IMEI: 35741419872561, có sim 0977496346 của anh Nguyễn Sỹ H2.

- 01 (một) điện thoại Iphone 12 promax, màu xanh, số IMEI: 354245339114517, có sim 0353157514 của anh Nguyễn Xuân Đ1.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 128/KL-HĐĐG ngày 12/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện C, kết luận:

“- 02 (hai) xe rơ moóc tự chế từ sắt vụn, tổng trọng lượng 1175kg. Có giá trị: 9.400.000 đồng.

* Về trách nhiệm dân sự

- Anh Vũ Văn N không yêu cầu Trần Ngọc T bồi thường.

- Anh Lê Thành Đ đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật và không yêu cầu bồi thường.

Cáo trạng số: 18/CT-VKS ngày 12/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội truy tố Trần Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo Trần Ngọc T có đơn xin được xét xử vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Trần Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần Ngọc T từ 18 đến 24 tháng tù. Tổng hợp hình phạt là 06 (Sáu) năm 08 (T2) tháng tù của Bản án Hình sự sơ thẩm số: 18/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Trần Ngọc T phải chịu hình phạt chung của hai

Bản án từ 08 (T) năm 02 (Hai) tháng tù đến 08 (T2) năm 08 (T2) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/05/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Không xem xét.

Về án phí:Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, các biện pháp điều tra như: Lấy lời khai bị can, lấy lời khai người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, trưng cầu định giá tài sản, giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với bị can. Quá trình điều tra, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Về sự vắng mặt của bị cáo Trần Ngọc T, người bị hại là anh Lê Thành Đ và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Văn N: Bị cáo Trần Ngọc T đã có đơn xin xét xử vắng mặt; người bị hại là anh Lê Thành Đ đã nhận lại tài sản bị mất, có ý kiến xin vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Văn N trong quá trình điều tra không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Do vậy, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét lời khai của bị cáo Trần Ngọc T trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:

Trong thời gian lái máy múc đất ở xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội. Trần Ngọc T nhìn thấy 02 xe rơ moóc tự chế bằng sắt vụn trị giá 9.400.000 đồng (Chín triệu bốn trăm nghìn đồng) của anh Lê Thành Đ đỗ ở sân nhà văn hóa thôn P, xã P, huyện C nhưng không có người trông coi, nên T nảy sinh ý định trộm cắp 02 xe rơ mooc bán lấy tiền ăn chơi. Ngày 18/5/2024, T gọi điện thoại thuê xe cẩu đến nhà văn hóa thôn P, xã P để cẩu chở 02 xe rơ mooc đi bán. Khi anh Nguyễn Sỹ H2, Nguyễn Xuân Đ1 điều khiển xe ô tô

cẩu đến cẩu 02 xe rơ moóc tự chế lên thùng, thì bị anh Lê Thành Đ chủ 02 xe rơ moóc phát hiện đã trình báo Công an xã thu giữ vật chứng.

Hành vi lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu là anh Lê Thành Đ rồi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Đ là 02 xe rơ mooc tự chế bằng sắt vụn, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 9.400.000 đồng mà Trần Ngọc T thực hiện đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số: 18/CT-VKS ngày 12/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội truy tố Trần Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; xâm phạm đến trật tự công cộng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn, bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án xét xử về tội liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài. Do vậy, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như phòng ngừa chung.

[2.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo yên tâm cải tạo.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng: Bản án Hình sự phúc thẩm số: 21/2021/HSPT ngày 12/01/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đối với bị cáo chưa được xóa án. Nay bị cáo tiếp tục phạm tội mới, lần phạm tội này là tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Lê Thành Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Văn N không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm bồi thường.

[4]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 02 (hai) xe rơ moóc tự chế để ở sân nhà văn hóa thôn đã thu giữ là tài sản hợp pháp của anh Lê Thành Đ, anh Đ có đơn xin lại tài sản. Ngày 15/8/2024, Cơ quan Điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho anh Đ để quản lý, sử dụng là có căn cứ nên không xem xét.

- Đối với xe ô tô cẩu tự hành ISUZU, biển kiểm soát: 29H-054.41, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của anh Vũ Văn N. Anh N có đơn xin lại tài sản nên ngày

15/8/2024, Cơ quan Điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho anh N để quản lý, sử dụng là có căn cứ nên không xem xét.

- Đối với 01 (một) điện thoại Iphone 13 promax, màu xanh, số IMEI: 354786252164898, có sim 0961052626 là tài sản hợp pháp của anh Vũ Văn N. 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy, màu xanh, số IMEI: 352828296865098, có sim 0924851111 là tài sản hợp pháp của anh Vũ Văn N. 01 (một) điện thoại Iphone 14 promax, màu tím, số IMEI: 35741419872561, có sim 0977496346 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Sỹ H2. 01 (một) điện thoại Iphone 12 promax, màu xanh, số IMEI: 354245339114517, có sim 0353157514 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Xuân Đ1. Ngày 30/12/2024, Cơ quan Điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho anh N, Đ1, H2 để quản lý, sử dụng là có căn cứ nên không xem xét.

+Đối với anh Đỗ Văn H1, anh Vũ Văn N, anh Nguyễn Sỹ H2, anh Nguyễn Xuân Đ1 là người Trần Ngọc T thuê thực hiện hành vi cẩu 02 xe rơ moóc để tại nhà văn hóa thôn P, xã P, huyện C lên xe ô tô với mục đích chuyển xe đến địa chỉ ở thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh mà Trần Ngọc T đã gửi trước đó. Các anh H1, N, H2 và Đ1 thực hiện việc cẩu xe, trước, trong và sau khi được T thuê cẩu 02 xe rơ moóc thì tất cả đều không biết nguồn gốc của 02 xe rơ moóc này, không biết tài sản trộm cắp. Nên không phạm tội.

+ Đối với anh Nguyễn Văn T3: Xuất phát từ việc T và anh T3 có quen biết nhau từ trước, anh T3 từng thu mua dầu thừa và các phế liệu của T nên ngày 18/5/2024, T đã liên hệ và thỏa thuận với anh T3 bán 02 xe rơ moóc, anh T3 đồng ý thu mua nhưng quá trình trao đổi, T không nói cho anh T3 về nguồn gốc tài sản và chưa thanh toán tiền cho T. Do vậy, anh Nguyễn Văn T3 không phạm tội.

+ Đối với chị Hồ Thị H là vợ của T có số thuê bao 0867776407 mà T sử dụng để thuê chờ 02 xe rơ moóc được đăng ký chính chủ mang tên Hồ Thị H. Thời gian từ ngày 15/5/2024 đến 20/5/2024, chị H sống cùng với T ở thôn T, xã L, huyện T, Thành phố Hà Nội nên T lấy điện thoại của H để sử dụng nhưng chị H không biết để làm gì. Bản thân chị H không biết T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, hơn nữa T khai nhận không bàn bạc, thỏa thuận gì với chị H. Do vậy, chị Hồ Thị H không đồng phạm phạm tội Trần Ngọc T.

[5]. Về án phí: Bị cáo Trần Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Diều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần Ngọc T 18 (Mười tám) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 06 (Sáu) năm 08 (T2) tháng tù của Bản án Hình sự sơ thẩm số: 18/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của Tòa án nhân

dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Buộc Trần Ngọc T phải chịu hình phạt chung của hai bản án là 08 (T2) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/05/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Không xem xét.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Bị cáo Trần Ngọc T, người bị hại là anh Lê Thành Đ, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Văn N vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Công an huyện Chương Mỹ;
  • - CC THA dân sự huyện Chương Mỹ;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hoàng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 35/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger