|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2025/HS-PT
Ngày 17-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang;
Các thẩm phán: Bà Trần Thị Hà;
Ông Đặng Văn Quyết.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoan – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm H - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/TLPT-HS ngày 20 tháng 1 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ và bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 247/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn P, xã S (nay là Tổ dân phố P, phường S), thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Lê Thị L, sinh năm 1949; vợ: Phạm Thị T1, sinh năm 1981; con: Có 04, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án: Không có; tiền sự: Không có. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ tạm giam từ ngày 09/5/2024 đến ngày 01/8/2024, bị áp dụng biện pháp “Bảo Lĩnh”, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên toà).
- Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn A, xã S (nay là Tổ dân phố A, phường S), thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963; vợ: Nông Thị H1, sinh năm 1995; con: Có 03, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 10/12/2022, Trưởng Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên toà).
Ngoài ra trong vụ án còn có 09 bị cáo khác, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo, không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
I. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thanh B, Hà Văn C2, Nguyễn Văn G, Dương Ngọc H2, Nguyễn Xuân N2, Nguyễn Văn D, Giáp Văn T2.
Buổi chiều ngày 03/5/2024, Giáp Văn T2, Nguyễn Xuân N2 và Hà Văn C2 đến nhà Nguyễn Thanh B giúp lợp mái tôn. Sau đó, Nguyễn Văn N1 đến nhà B chơi và ăn uống cùng mọi người. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Dương Ngọc H2 đến nhà B chơi. Trong lúc ngồi uống nước thì N1, T2, C2, H2 rủ nhau đánh bạc bằng hình thức chơi liêng. B bảo mọi người vào trong phòng bếp ngồi đợi rồi lấy 01 bộ tú lơ khơ màu xanh và 01 bộ tú lơ khơ màu đỏ mang vào bếp để mọi người đánh bạc.
Mọi người thỏa thuận sử dụng luân phiên 02 bộ bài tú lơ khơ để đánh bạc; mỗi người được chia 03 quân bài, đóng 20.000 đồng tiền gà vào giữa, mức tố thấp nhất là 20.000 đồng, tối đa là 100.000 đồng; người thắng sẽ được tiền tố và tiền gà ở giữa và được chia bài của ván tiếp theo; nếu ai được sáp thì mỗi người còn lại sẽ phải trả thêm 100.000 đồng và người có bài sáp sẽ bỏ ra 100.000 đồng cho B; nếu ai được liêng đồng hoa thì mỗi người sẽ phải mất thêm 50.000 đồng, người được bài liêng đồng hoa sẽ bỏ ra 50.000 đồng cho B là chủ nhà. Trong lúc N1, T2, C2, H2 đang đánh bạc thì lần lượt có Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn G và Nguyễn Văn D đến nhà B rồi đánh bạc. Nguyên sử dụng 500.000 đồng; T2 sử dụng 180.000 đồng; C2 sử dụng 230.000 đồng; H2 sử dụng 460.000 đồng; G sử dụng 100.000 đồng; D sử dụng 160.000 đồng. Đáng sử dụng 1.800.000 đồng đánh bạc một lúc bị thua hết tiền nên vay H2 1.000.000 đồng rồi sử dụng đánh bạc và bị thua hết nên bảo H2 cho vay thêm tiền. H2 không có tiền mặt nên sử dụng tài khoản ngân hàng của H2 chuyển khoản 3.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của B để nhận tiền mặt. Sau khi được H2 chuyển khoản, B đưa trả cho H2 3.000.000 đồng tiền mặt; H2 đưa cho Đ vay 2.800.000 đồng đánh bạc. Đáng đánh bạc một lúc thì thắng nên trả lại H2 1.000.000 đồng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Đ, N1, T2, C2, H2, G, D đánh bạc thì Đ lại bị thua hết tiền nên bảo N2 cho vay tiền. N2 đem theo số tiền 1.220.000 đồng nên cho Đ vay 1.000.000 đồng. Nghinh sử dụng số tiền còn lại 220.000 đồng ngồi tham gia đánh bạc cùng mọi người.
Trong lúc đang đánh bạc, Đ phát hiện N1 sử dụng 01 quân bài giấu sẵn ở dưới đùi nên nghi ngờ N1 đánh bạc bịp và yêu cầu N1 trả lại số tiền mà Đáng đã bị thua. B thấy xảy ra cãi nhau nên đã đi vào can ngăn và bảo N1 trả lại Đáng 1.000.000 đồng thì N1 đồng ý. B tự số tiền lấy 1.000.000 đồng trong ví của N1 trả lại cho Đ rồi bảo N1 đi về. Sau đó, Đ, T2, C2, G, D, N2 tiếp tục đánh bạc với nhau một lúc thì nghỉ. Do không có ai được sáp, liêng đồng hoa nên B không được tiền.
Quá trình điều tra, các bị can khai đã sử dụng đánh bạc ngày 03/5/2024 tại gian bếp nhà Nguyễn Thanh B như sau: Nguyễn Văn Đ sử dụng 5.600.000 đồng để đánh bạc (Đáng mang theo 1.800.000 đồng; vay H2 2.800.000 đồng; vay Nghinh 1.000.000 đồng). Dương Ngọc H2 có 460.000 đồng đánh bạc; thắng 1.000.000 đồng và cho Đ vay 1.000.000 đồng rồi bị thua hết. Nguyễn Văn N1 có 500.000 đồng đánh bạc; thắng 1.000.000 đồng. Khi bị Đ phát hiện đánh bạc gian lận thì đã trả lại Đáng 1.000.000 đồng. Khi nghỉ đánh bạc thì còn lại số tiền 500.000 đồng. Hà Văn C2 có 230.000 đồng đánh bạc, thắng 60.000 đồng. Giáp Văn T2 có 180.000 đồng đánh bạc, bị thua 40.000 đồng, còn lại 140.000 đồng. Nguyễn Văn D có 160.000 đồng đánh bạc bị thua hết. Nguyễn Văn G có 100.000 đồng đánh bạc, bị thua 70.000 đồng, còn lại 30.000 đồng. Nguyễn Xuân N2 có 1.220.000 đồng; cho Đ vay 1.000.000 đồng, sử dụng 220.000 đồng đánh bạc bị thua 70.000 đồng, còn lại 150.000 đồng. Tổng số tiền mà các bị cáo sử dụng đánh bạc là 7.450.000 đồng.
Ngày 09/5/2024, Nguyễn Thanh B, Dương Ngọc H2, Hà Văn C2, Nguyễn Văn G, Nguyễn Xuân N2 đầu thú khai nhận hành vi đánh bạc tại nhà B ngày 03/5/2024 như nêu trên.
Cơ quan điều tra tạm giữ những vật chứng, tài sản gồm:
- Tạm giữ của Nguyễn Thành B1: 01 điện thoại iPhone 12 Pro Max lắp sim số 0987.764.867.
- Tạm giữ của Dương Ngọc H2: 01 điện thoại Nokia màu đen, lắp sim số 0842.523.566.
- Tạm giữ của Hà Văn C2: 01 điện thoại Samsung Galaxy A03s lắp sim số 0985.656.822 và số tiền 290.000 đồng.
- Tạm giữ của Nguyễn Văn G: 01 điện thoại Realme C35, màu trắng lắp sim số 0982.531.756 và số tiền 100.000 đồng.
- Tạm giữ của Nguyễn Xuân N2: 01 điện thoại MASTEL màu vàng lắp sim số 0983.560.004; số tiền 220.000 đồng và 01 ví da màu nâu bên trong có 1.000.000 đồng, 01 thẻ căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Xuân N2; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 98B2 - 112.27.
- Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thanh B thu giữ 01 thảm bằng vải kích thước (3x2)m, một mặt màu đen, một mặt hoa văn nhiều màu mà các bị can ngồi khi đánh bạc.
II. Hành vi cố ý gây thương tích của Nguyễn Văn C3; hành vi gây rối trật tự công cộng của Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T.
Nguyễn Văn Đ cho rằng Nguyễn Văn N1 đánh bạc bịp ngày 03/5/2024 nên nhiều lần gọi điện thoại hẹn gặp N1 để yêu cầu trả lại số tiền mà Đ bị thua nhưng N1 không gặp. Buổi chiều ngày 07/5/2024, Đ cùng Nguyễn Văn T, Nguyễn Quang T3 uống bia tại quán “Quý Trọc” ở thôn A, xã S, thành phố B.
Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, N1 cùng Nguyễn Văn N3 và Hoàng Trọng T4 uống bia tại quán “Sân bia 98” ở thôn P, xã S. N1 gọi điện thoại bảo Đ đến quán “Sân bia 98” nói chuyện. Đáng đồng ý và rủ T, T3 đi cùng. Ba người đi đến uống bia, nói chuyện với N1, N3, T4. Tại đây, Đ nói với N1 về việc N1 đánh bạc bịp và bảo trả lại số tiền mà Đ bị thua nhưng N1 không đồng ý. Đáng nói nếu N1 không trả tiền thì sẽ đánh rồi bảo chị Nguyễn Thị Nghĩa L1 chủ quán tắt camera nhưng chị N không đồng ý. Thấy Đ dọa đánh N1 nên anh T4 đi sang quán nước của chị Phùng Thị H3 ở gần đó rồi gọi điện thoại kể cho Nguyễn Văn T5 là anh họ N1 việc giữa Đáng và N1 xảy ra mâu thuẫn liên quan đến đánh bạc. Anh T5 lo sợ N1 bị đánh nên gọi điện thoại nói cho Nguyễn Văn C3 là em ruột của N1 biết sự việc và rủ đến quán “Sân bia 98” xem tình hình sự việc. Chính lấy trong bếp nhà C3 01 con dao (loại dao chọc tiết lợn) giấu vào trong cạp quần mục đích phòng thân rồi đi bộ đến nhà anh T5. Sau đó, anh T5 điều khiển xe mô tô chở C3 đến quán “Sân bia 98”. Khi đến nơi, C3 vào ngồi uống bia cùng N1, T, N3 còn anh T5 đi sang quán nước của chị H3 ngồi uống nước nói chuyện với T4. Lúc này, Đ đi sang quán nước của chị H3 hút thuốc lào xong rồi quay lại quán “Sân bia 98” dùng tay vỗ vào vai, túm cổ áo N1 yêu cầu đi sang quán nước của chị H3 nói chuyện. C3 và T cũng đi theo Đ và N1 đến quán nước của chị H3. Đáng nói với N1: “Mày trả tao 5.000.000 đồng hay là tao đánh mày”. Nguyên trả lời không có tiền trả, T đứng dậy chửi rồi dùng chân phải đạp vào phía ngực của N1 làm N1 ngửa người về phía sau. Thấy N1 bị đánh, C3 lao vào đẩy T lùi về phía sau. Đáng cầm chiếc điếu cày bằng tre màu đen tại quán đập vào vùng lưng, gáy của N1 làm N1 bị ngã. T cầm chiếc gậy rút ba khúc bằng kim loại vụt liên tiếp hai cái vào vùng đầu, mặt C3. Sau khi bị đánh, C3 lấy con dao đem theo từ trước ra rồi chém về phía T thì bị T vụt gậy. Chính giơ tay lên đỡ giữ được đầu gậy rồi dùng dao chém một nhát vào bắp tay phải và một nhát vào lưng T. C3 cầm dao còn T cầm gậy xông vào đánh nhau. Chính vừa tiến, vừa chém dao về phía T làm T bị ngã ra đất. T giơ chân trái lên đạp thì bị C3 dùng dao chém một nhát vào gan bàn chân trái. Chính dùng tay phải giữ vai phải của T, tay trái cầm dao chém một nhát vào mạn sườn trái. Tiếp đến, C3 đưa lưỡi dao vào vị trí sau gáy của T. Thấy vậy, anh T3 hô lên “mày chém thế chết người đấy” thì C3 dừng lại. Tường vung gậy vụt về phía C3 thì C3 lao vào dùng tay phải giữ vai và dùng dao đâm một nhát vào mạn sườn phải của T rồi rút dao ra. T đứng dậy bỏ chạy ra đường H rồi đưa chiếc gậy rút ba khúc cho anh T3 cầm. Sau đó, anh T3 đưa T đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu.
Trong lúc C3 và T đánh nhau thì N1 và Đ cũng lao vào đánh nhau. Đáng và N1 mỗi người cầm 01 chiếc điếu cày bằng tre vừa đánh vừa chửi nhau. N1 cầm điếu cày đuổi đánh và ném điếu cày về phía Đáng nhưng không trúng làm chiếc điếu cày bị vỡ làm 2 mảnh. Khi N1 đang cúi xuống nhặt điếu cày thì Đ cầm điếu cày chạy đến vụt sượt qua lưng Đáng rồi bỏ chạy. Nguyên cầm chiếc điếu cày bị vỡ quay lại để ở quán nước. Thấy N1 và Đ đánh nhau, anh T5 đi ra mở cốp xe mô tô lấy chiếc gậy rút ba khúc bằng kim loại phật gậy ra rồi cất vào trong túi quần. N1 cầm 01 con dao ở quán giơ về phía Đáng chửi, đe doạ thì anh T5 can ngăn và bảo N1 đi về. Sau đó, anh T5 điều khiển xe mô tô chở N1 còn C3 đi xe mô tô của N1 đi về. Khi đi được khoảng 20m, C3 vứt con dao xuống sườn đường. Đáng nhìn thấy C3 vứt dao nên đi ra nhặt con dao này rồi quay lại quán nước sau đó đem con dao về nhà.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ những vật chứng, tài sản gồm:
- Tạm giữ của Nguyễn Văn C3: 01 điện thoại Realme F9 32 GB, lắp sim số 0397.459.085.
- Tạm giữ của Nguyễn Văn N1: 01 xe mô tô Honda Airblade, biển kiểm soát 98B2 – 925.09.
- Tạm giữ 01 gậy rút ba khúc bằng kim loại, tay cầm được bọc cao su màu đen dài 24cm do bà Nguyễn Thị H4 là vợ Tưởng giao nộp.
- Chị Phùng Thị H3 giao nộp: 01 con dao dài 37cm, chuôi gỗ dài 13,5cm, lưỡi dao dài 23,5cm, bản rộng 8,5cm, đầu vuông.
Về thương tích của Nguyễn Văn T:
Bệnh án ngoại khoa ngày 14/5/2024 và ngày 28/5/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác nhận: Nguyễn Văn T đến cấp cứu từ ngày 07/5/2024 đến ngày 14/5/2024 thì ra viện rồi tiếp tục điều trị từ ngày 15/5/2024 đến ngày 28/5/2024. Tình trạng khi vào viện: Sốc đa chấn thương do bị chém; vết thương thấu ngực bụng do bị đâm.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2290 ngày 09/5/2024 của Trung tâm P Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
- Các kết quả chính:
- - Thương tích vết thương đã khâu mạn sườn phải kích thước nhỏ + Sonde dẫn lưu ngực phải đường nách giữa + Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: Gãy xương sườn số 10 bên phải; Hình ảnh chấn thương gan phải độ III kèm ổ chảy máu thể hoạt động + Vết mổ đường trắng giữa trên và dưới rốn kích thước trung bình + 02 sonde dẫn lưu hố chậu phải: 12%.
- - Thương tích vết thương đã khâu gan chân trái kích thước nhỏ: 1%.
- - Chưa đánh giá được các thương tích vùng lưng – vai phải do bệnh nhân không bộc lộ được vết thương.
- Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định là 13%.
- Kết luận khác: Các thương tích do vật sắc, nhọn gây nên, không xác định được chiều hướng (bút lục 237- 238 tập 1).
* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2357 ngày 10/6/2024 của Trung tâm P Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
- Các kết quả chính:
- - Thương tích vết sẹo mạn sườn phải kích thước nhỏ + Vết sẹo mổ dẫn lưu sườn phải trên đường nách giữa kích thước nhỏ + Hai vết sẹo mổ dẫn lưu vùng bụng phải kích thước nhỏ + Vết sẹo mổ đường trắng giữa trên rốn kích thước trung bình + Thương tích đứt đôi xương sườn 10 và động mạch liên sườn, thủng cơ hoành thấu gan hạ phân thùy 6, 7 + X-quang: Gãy cung bên xương sườn X phải. Xơ hóa mô kẽ, dày vách liên thùy dưới phổi phải, dày dính diện hẹp màng phổi thành sau phải. Ô giảm đậm do đụng dập nhu mô gan cũ thành hạ phân thùy VI đường kính 50mm: 55%.
- - Thương tích vết sẹo vùng lưng giữa hai xương bả vai kích thước (4x0,1)cm: 01%.
- - Thương tích vết sẹo giữa hai xương bả vai kích thước (3x0,1)cm: 01%.
- - Thương tích vết sẹo gan chân trái kích thước trung bình: 02%.
- Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định là 57%.
- Kết luận khác: Các thương tích do vật sắc, nhọn gây nên, không xác định được chiều hướng và lực gây thương tích (bút lục 243- 244 tập 1).
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2643 ngày 26/9/2024 của Trung tâm P Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
- Các kết quả chính:
- - Thương tích vết sẹo mặt ngoài 1/3 trên cánh tay phải kích thước trung bình: 2%.
- - Thương tích vết sẹo vùng cổ sau gáy kích thước trung bình: 4%.
- - Thương tích vết sẹo sườn lưng trái kích thước trung bình: 2%.
- Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định là 08%.
- Kết luận khác:
- - Các thương tích do vật sắc nhọn gây nên, không xác định được chiều hướng và lực gây thương tích.
- - Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể hiện tại của Nguyễn Văn T áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y là 57% + 8% = 60%.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định ADN trên 01 con dao thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn Đ. Kết luận giám định số 3516/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của V - Bộ C4 kết luận:
- Trên lưỡi con dao gửi giám định có bám dính máu người, do chất lượng dấu vết kém, không phân tích được kiểu gen (ADN) nên không xác định được máu là của ai.
- Trên chuôi con dao gửi giám định có bám dính ADN người, do chất lượng dấu vết kém, không phân biệt được kiểu gen (ADN) nên không xác định được ADN là của ai.
- Lưu kiểu gen của Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Văn C3 tại V Bộ C4.
Tại Bản Cáo trạng số: 222/CT-VKS ngày 18/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố Nguyễn Văn Chính về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Văn T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Thanh B, Dương Ngọc H2, Hà Văn C2, Nguyễn Văn G, Nguyễn Xuân N2, Nguyễn Văn D, Giáp Văn T2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (Hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam (từ ngày 09/5/2024 đến ngày 01/8/2024). Phạt bổ sung: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với 09 bị cáo khác, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 11/12/2024, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Ngày 18/12/2024 bị cáo Nguyễn Văn Đ có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Văn Đ trình bày: Bị cáo xin rút toàn bộ kháng cáo. Việc rút kháng cáo của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc.
Bị cáo Nguyễn Văn T trình bày: Bị cáo xin thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo có giao nộp bổ sung tại cấp phúc thẩm 01 đơn đề nghị có xác nhận của UBND xã S (nay là phường S) về việc bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện đang nuôi mẹ già yêu và ba con nhỏ, bản thân bị thương tích 60% nên cần điều kiện để phục hồi sức khỏe; Ghi nhận tấm lòng vàng của Mặt trận Tổ quốc thành phố B, phiếu thu ủng hộ quỹ người nghèo năm 2024 (số tiền 1.000.000 đồng) của Mặt trận Tổ quốc xã S (nay là phường S), Giấy khen của Công ty TNHH X khen thưởng nhân viên xuất sắc năm 2023, Quyết định về việc thực hiện chế độ trợ cấp một lần đối với bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Văn C1 – đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có cơ hội chữa trị, phục hồi sức khỏe và lao động chăm sóc gia đình. Bị cáo cam kết không tái phạm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 2 Điều 342, Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Đ.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa bản án hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Bị cáo Đ và bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.
- Về tội danh xét xử đối với các bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua quá trình xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, đủ cơ sở xác định:
- Buổi tối ngày 03/5/2024, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn Đ, Hà Văn C2, Dương Ngọc H2, Nguyễn Văn G, Nguyễn Xuân N2, Nguyễn Văn D, Giáp Văn T2 cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh liêng tại nhà Nguyễn Thanh B ở thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 7.450.000 đồng. Bị cáo Đ cho rằng bị cáo N1 đánh bạc bịp nên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Đối với bị cáo Nguyễn Thanh B có hành vi cung cấp 02 bộ bài tú lơ khơ cho mọi người đánh bạc tại nhà mình nên phải chị trách nhiệm đồng phạm về hành vi đánh bạc với vai trò giúp sức.
- Buổi tối ngày 07/5/2024, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T đi uống bia tại quán bia “Quý Trọc” thì Nguyễn Văn N1 gọi điện cho Đ hẹn đến “Sân bia 98” ở thôn P, xã S, thành phố B để nói chuyện. Đáng bảo N1 trả lại số tiền đánh bạc bị thua nhưng N1 không đồng ý nên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Nguyễn Văn C3 là em trai N1 sau khi biết sự việc đã cầm 01 con dao, loại dao chọc tiết lợn đi đến. Tại đây, Đ và N1 mỗi người cầm 01 chiếc điếu cày bằng tre đánh nhau. T dùng chân đạp N1 rồi cầm chiếc gậy rút ba khúc bằng kim loại đánh C3. Chính cầm dao chém nhiều nhát vào tay phải, lưng, gan chân trái, sườn trái, đâm 01 nhát vào sườn phải của T, hậu quả làm T bị thương tích 60%.
- Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thanh B, Dương Ngọc H2, Hà Văn C2, Nguyễn Văn G, Nguyễn Xuân N2, Nguyễn Văn D, Giáp Văn T2 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C3 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; xét xử bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Xét kháng cáo bị cáo Nguyễn Văn Đ thì thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đ xin rút toàn bộ kháng cáo. Việc rút kháng cáo của bị cáo Đ là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc nên cần áp dụng khoản 3 Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự để đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Đ.
- Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định khoản 1 điều 52 của bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 bộ luật hình sự.
- Về nhân thân: Ngày 10/12/2022, Trưởng Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo T về hành vi đánh bạc. Bị cáo đã được xóa tiền sự.
- Hội đồng xét xử sơ thẩm đã đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
- Tại cấp phúc thẩm, bị cáo T giao nộp 01 đơn đề nghị có xác nhận của UBND xã S (nay là phường S) về việc bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện đang nuôi mẹ già yêu và ba con nhỏ, bản thân bị thương tích 60% nên cần điều kiện để phục hồi sức khỏe; Ghi nhận tấm lòng vàng của Mặt trận Tổ quốc thành phố B, phiếu thu ủng hộ quỹ người nghèo năm 2024 (số tiền 1.000.000 đồng) của Mặt trận Tổ quốc xã S (nay là phường S), Giấy khen của Công ty TNHH X khen thưởng nhân viên xuất sắc năm 2023, Quyết định về việc thực hiện chế độ trợ cấp một lần đối với bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Văn C1 – đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nghiệm vụ quốc tế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới, được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng cho bị cáo T khi xem xét kháng cáo.
- Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ thuộc điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, năm 2022 bị cáo bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng đã được xóa tiền sự, bị cáo bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 60%, đang nuôi mẹ già và ba con nhỏ. Đối chiếu với quy định tại Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo T có đủ điều kiện được hưởng án treo. Việc tạo điều kiện cho bị cáo được cải tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, không gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức phạt 02 năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bị cáo Đáng rút kháng cáo tại phiên tòa, bị cáo T được chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm g, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 342, Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ.
Bản án hình sự sơ thẩm số 247/2024/HSST ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 17/3/2025.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 247/2024/HSST ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể Quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm g, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Nguyễn Văn Đ và bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hương Giang |
Bản án số 35/2025/HS-PT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự: cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng, đánh bạc
- Số bản án: 35/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Cố ý gây thương tích, Gây rối trật tự công cộng, Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ và đồng phạm - phạm tội Gây rối trật tự công cộng
