Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 35/2025/HS-ST

Ngày: 10-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Công;

Bà Nguyễn Thị Hồng Xuân.

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng M, sinh năm 1996 (số CCCD [...]), tại: Thành phố Cần Thơ; nơi thường trú: Ấp V, thị trấn V, huyện V, Thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Thu T; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 15/02/2023 bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 28/QĐ-TA ngày 15/02/2023 với thời hạn 21 tháng. Chấp hành cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy P, đến ngày 13/6/2024 chấp hành xong.

Nhân thân:

  • - Ngày 17 tháng 11 năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 275/2014/HSST ngày 17/11/2014. Chấp hành án tại Trại giam T1 Bộ C, đến ngày 25/9/2015 chấp hành xong án phạt tù.
  • - Ngày 22/9/2016 bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 400/QĐ-TA ngày 22/9/2016 với thời hạn 24 tháng. Chấp hành cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 3, đến ngày 02/01/2018 chấp hành xong.
  • - Ngày 16/9/2020 bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 752/QĐ-TA ngày 16/9/2020 với thời hạn 18 tháng. Chấp hành cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, đến ngày 05/12/2021 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26 tháng 10 năm 2024 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1999; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trắng; vắng mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn D; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoàng M không có nghề nghiệp ổn định nên đã nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của người khác bán lấy tiêu xài. Vào khoảng 16 giờ 00 ngày 26/10/2024, M đi bộ từ cổng khu công nghiệp Đ về công viên B trên tuyến đường Đ. Khi đi đến nhà trọ địa chỉ B khu phố Đ, phường B thì M đi bộ vào trong dãy trọ. Khi vào trong, M nhìn thấy tại phòng trọ số 4B đang mở cửa, bên trong có bà Thạch Thị V đang ngồi rửa chén, quay mặt vào phía trong phòng và một chiếc điện thoại di động hiệu Oppo Reno 8 màu đen để trên kệ để giày dép trong phòng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. M đã lén lút bước vào trong phòng dùng tay lấy chiếc điện thoại di động trên, khi M vừa lấy trộm chiếc điện thoại cầm trên tay thì bà V quay mặt lại phát hiện truy hô lớn nên M bỏ lại chiếc điện thoại xuống kệ để giày dép gần cửa ra vào và bỏ chạy. Nghe thấy tiếng truy hô, ông Nguyễn Thanh S là chồng bà V trong phòng tắm chạy ra đuổi theo và cùng với ông Nguyễn Văn D đang ở cùng dãy trọ truy đuổi bắt giữ được M. Sau đó, ông S trình báo và giao M cùng vật chứng là chiếc điện thoại di động hiệu Oppo Reno 8 màu đen cho Công an phường B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc sau đó được chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Biên bản định giá và Kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno 8, màu đen, số IMEI 1866876062455213 có trị giá 3.200.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 20/CT-VKS-TA ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, Trong vụ án này, mặc dù bị cáo không lấy được tài sản của bị hại và việc không lấy được tài sản vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của bị cáo do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng M mức hình phạt từ 07 (bảy) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Về xử lý vật chứng và về trách nhiệm dân sự: Không có.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội; bị hại vắng mặt tuy nhiên vẫn giữ nguyên ý kiến trong quá trình điều tra và không trình bày gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 26/10/2024, tại nhà trọ địa chỉ: B khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại Reno 8, màu đen, số IMEI 1866876062455213 có trị giá 3.200.000 đồng của bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Trong vụ án này, bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì tham lam, tư lợi bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, để bị cáo suy nghĩ lại hành vi phạm tội của mình, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4.1] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Đối chiếu với mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Trong vụ án này, mặc dù bị cáo không lấy được tài sản của bị hại và việc không lấy được tài sản vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của bị cáo do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 57 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng M 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 10 năm 2024.

  2. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Không có.
  3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Phân trại tạm giam khu vực thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: HS, THAHS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 35/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN HOÀNG M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger