|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2025/HS-ST
Ngày 06-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Văn Bình
Bà Hà Thị Nga
Thư ký phiên toà: Ông Phùng Hoàng Phú - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2025/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 06/11/1974 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số G Lô E, tổ dân phố số C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Chủ thầu xây dựng; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Phùng Thị D; có vợ là Trần Thị Hiền V, không có con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 24/10/2024; có mặt.
* Bị hại:
Ông Vũ Văn Đ1 (đã chết); người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Phạm Thị H (là vợ của anh Vũ Văn Đ1); anh Vũ Tuấn P và chị Vũ Thị C (là con đẻ của anh Vũ Văn Đ1); cùng nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; bà Phạm Thị H vắng mặt, anh Vũ Tuấn P và chị Vũ Thị C có mặt.
* Người có nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Trung K; nơi cư trú: Số E N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng cuối tháng 3/2024, anh Nguyễn Trung K mua lô đất số I V, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng của anh Bùi Văn H1, sinh năm 1987 và chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1993 (cùng nơi cư trú: Số F T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng). Khi bán lô đất cho anh K, anh H1 có bàn giao cho anh K Giấy phép xây dựng số 153/GPXD ngày 14/3/2024 của lô đất trên do Ủy ban nhân dân quận L cấp cho anh Bùi Văn H1 và chị Nguyễn Thị T1. Sau đó, K sang tên lô đất cho em gái là chị Nguyễn Bích N, sinh năm 2000 (nơi cư trú: khu N, Vinhomes Marina C, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng) nhưng vẫn làm chủ đầu tư và tìm người xây nhà trên mảnh đất trên.
Khoảng tháng 4/2024, anh Nguyễn Trung K thuê Nguyễn Văn T làm chủ thầu xây dựng thi công công trình. Ngày 10/4/2024, trước khi tiến hành xây dựng, giữa anh T và anh K xác lập, ký kết “Hợp đồng khoán việc" và thỏa thuận T xây dựng nhà cho anh K trên diện tích 68m² theo thiết kế được cấp phép với mức giá 1.250.000đồng/m² xây dựng. Anh Nguyễn Trung K chịu trách nhiệm cung cấp vật tư, Nguyễn Văn T chịu trách nhiệm về tuyển nhân công và toàn bộ nội dung về an toàn lao động, trang thiết bị bảo hộ cho người lao động. Khi xảy ra mất an toàn lao động, T hoàn toàn chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật.
Để tiến hành xây dựng, Nguyễn Văn T thuê ông Vũ Văn Đ1, sinh năm 1974 (nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng) và một số lao động khác đến làm tại công trình, nhưng không ký kết hợp đồng lao động mà chỉ thỏa thuận bằng miệng, trả công theo “công nhật” với giá dao động từ 400.000đồng đến 500.000đồng/ngày. Quá trình xây dựng nhà số I V, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng, T cũng trực tiếp thi công, chỉ huy và điều hành tại công trình. Những người lao động khác đều làm việc theo sự phân công, chỉ đạo của T đối với từng hạng mục công việc cụ thể. Khi sử dụng lao động thi công công trình, T không lập kế hoạch, biện pháp thi công, không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động, không xây dựng kế hoạch thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn và không đề xuất với chủ đầu tư các biện pháp bảo đảm an toàn khi thi công cho người lao động.
Khoảng 07h00' ngày 16/8/2024, tại công trường xây dựng nhà số I V, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng, T chỉ đạo sử dụng máy tời điện do T mua (không rõ nhãn hiệu, chủng loại) chuyển vật liệu lên mái tầng 3 công trình để thi công. Trung trực tiếp ngồi điều khiển máy tời tại sân tầng 1 và phân công ông Đỗ Văn Đ2 đứng tại vị trí mép mái tầng 3 để đón, đỡ vật liệu tời kéo vào trong. Quá trình tời vật liệu, T biết ông Đ2 làm việc trên cao, nơi nguy hiểm, mép mái tầng 3 không có lan can, không có hệ thống lưới bao che, lưới đỡ chống rơi ngã nhưng không nhắc nhở, không trang bị dây đai an toàn, trang thiết bị bảo hộ lao động cho ông Đ2. Đến khoảng 10h00' cùng ngày, T ở dưới sân điều khiển máy tời để đưa khung máy trộn bê tông lên mái tầng 3 nơi ông Đ2 đứng đón đỡ. Khi dây cáp tời đang kéo khung máy trộn bê tông lên thì cột gỗ (chữ A) chống tời trên mái tầng 3 bị gãy, khung máy trộn bê tông bị rơi kéo theo ông Đ2 ngã từ mái tầng 3 xuống nền tầng 1. Sau đó, ông Đ2 được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Y, nhưng anh Đ2 đã chết.
Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định:
- - Khu vực sân trước cửa nhà số I V, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng có kích thước 3,8 x 3.1m có 01 phần khung máy trộn bê tông, 01 đống cát, đám tạp chất màu đỏ vón cục bám dính nhiều cát, cách tâm đám tạp chất 2,6m có 01 máy tời.
- - Trên mái tầng 3 có nhiều nguyên vật liệu: Cát, đá, xi măng, khu vực mép mái phía cửa nhà có 02 thanh gỗ hình trụ (cột chống tời) bị đổ gập về phía trước, 01 thanh bị gãy làm hai phần. Hai phần chân cột tời được buộc vào thanh kim loại đã gắn cố định vào mái bê tông. Đầu còn lại được buộc cố định với nhau tạo thành góc chữ A. Phần góc chữ A hướng xuống dưới có 01 ròng rọc được buộc bằng dây kim loại. Phần dây thừng thông qua ròng rọc, một đầu nối với máy tời, một đầu nối với phần khung máy trộn bê tông.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ 03 thanh gỗ hình trụ; 01 máy trộn bê tông (chỉ có phần khung và máy); 01 máy tời điện (không rõ nhãn hiệu) và cáp tời, dây thừng.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 238/2024/KLGĐTT-TTPYHP ngày 06/9/2024 của Trung tâm Pháp y thành phố H kết luận: Nạn nhân Vũ Văn Đ1 chết ngay tại chỗ do đa chấn thương, chấn thương sọ não, hàm mặt, chấn thương ngực nặng sau ngã cao.
Bản Cáo trạng số 23/CT-VKSLC ngày 21/01/2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị can Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 298 Bộ luật Hình sự.
Đối với Nguyễn Trung K là chủ đầu tư công trình xây đựng nhà số I V, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng, K đã ký “hợp đồng khoán việc" thể hiện việc Nguyễn Văn T tự chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý, cung cấp kiến thức, trang thiết bị cho người lao động, chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật nếu để xảy ra mất an toàn lao động. Công trình xây dựng nhà số I V, phường V, quận L, Hải Phòng là công trình xây dựng nhà ở riêng lẻ, theo quy định tại Điều 120 luật Xây dựng không bắt buộc phải giám sát. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Trung K.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có quan điểm: Qua xem xét đánh giá toàn diện các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra cùng lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người chứng kiến, Kết luận giám định tử thi, giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Văn T theo tội danh cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 298; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự tuyên bố Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” và xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 (Ba mươi) tháng đến 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình của bị cáo kinh tế khó khăn, không có tài sản riêng, là lao động chính, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng trong vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Văn T 01 máy trộn bê tông, nên không đặt ra xem xét xử lý.
Đối với vật chứng chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân gồm: 03 thanh gỗ hình trụ xác định là vật không còn giá trị, nên đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; 01 máy tời cáp điện (Không rõ nhãn hiệu), cáp tời và dây thừng xác định là vật không liên quan đến hành vi phạm tội, nên đề nghị trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cung anh Nguyễn Trung K đã kết hợp bồi thường số tiền 70.000.000 đồng (Bẩy mươi triệu) cho gia đình ông Vũ Văn Đ1. Đại diện gia đình ông Vũ Văn Đ1 đã nhận đủ số tiền, không có yêu cầu gì khác, nên không đề nghị xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Người đại diện hợp pháp của bị hại bà Phạm Thị H và người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Trên cơ sở ý kiến của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt là anh Vũ Tuấn P, chị Vũ Thị C và quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tại phiên tòa về việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về hành vi “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng”:
[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng; phù hợp với Biên bản hiện trường, Bản kết luận giám định tử thi số 238/2024/KLGĐTT-TTPYHP ngày 06/9/2024; Văn bản số 5654/SLĐTBXH-TTr ngày 30/9/2024 của Sở lao động thương binh và xã hội thành phố H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cùng với vật chứng đã được thu giữ trong vụ án thể hiện: Vào khoảng 10h00' ngày 16/8/2024, Nguyễn Văn T là người tổ chức thi công xây dựng, trực tiếp điều hành sử dụng lao động tại công trình xây dựng nhà số I V, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng. Trong quá trình thi công, xây dựng công trình trên, Nguyễn Văn T đã không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, thiết bị bảo hộ lao động, không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho người lao động trên cao; không có kế hoạch thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn chống rơi, ngã, không đề xuất với chủ đầu tư các biện pháp bảo đảm an toàn khi thi công dẫn đến hệ thống cột đỡ máy tời do T tự lắp đặt tại tầng 3 với mục đích để chuyển nguyên vật liệu bị gẫy đổ khi tời máy trộn bê tông kéo theo ông Vũ Văn Đ1 rơi ngã từ mép mái tầng 03 xuống đất tử vong.
[4] Hành vi của Nguyễn Văn T đã vi phạm khoản 10 Điều 12 Luật xây dựng, quy định về các hành vi bị nghiêm cấm: “ Vi phạm quy định về an toàn lao động, tài sản, phòng chống cháy, nổ, an ninh, trật tự và bảo vệ môi trường trong xây dựng”; khoản 3 Điều 115 Luật xây dựng: “Nhà thầu thi công xây dựng phải đề xuất, thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho người, máy, thiết bị, tài sản, công trình đang xây dựng, công trình ngầm và các công trình liền kề....”; khoản 1 và 2 Điều 23 Luật An toàn, vệ sinh lao động: “1. Người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại được người sử dụng lao động trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và phải sở dụng trong quá trình làm việc. 2. Người sử dụng lao động thực hiện các giải pháp về công nghệ, kỹ thuật, thiết bị để loại trừ hoặc hạn chế tối đa yếu tố nguy hiểm...”; Điều 4, Điều 6 Thông tư số 04/2014/TT-BL ĐTBXH của Bộ L hướng dẫn thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân: “Người lao động trong khi làm việc chỉ cần tiếp xúc với một trong những yếu tố nguy hiểm, độc hại dưới đây thì được trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân.....làm việc trên cao....”, “Người sử dụng lao động phải tổ chức hướng dẫn người lao động sử dụng thành thạo các phương tiện bảo vệ cá nhân thích hợp và phải kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng”; điểm a tiểu mục 2.1.1.1 “Bảo vệ cho người làm việc trên công trường và người ở khu vực lân cận trước các nguy cơ gây suy giảm sức khỏe, thương tật, tử vong phát sinh từ công trường”; tiểu mục 2.7.1.2 “Tại các nơi làm việc ....Ở các khoảng trống (mép mái, quanh các lỗ mở) phải có lan can an toàn và tấm chặn chân. Trong trường hợp không thể có lan can và tấm chặn chân, người lao động phải sử dụng dây an toàn.” QCVN 18:2021/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia an toàn trong thi công xây dựng ban hành theo Thông tư số 16/2021/TT-BXD ngày 20/12/2021 của Bộ X.
Từ nội dung vụ việc, những phân tích trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi phạm tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm a khoản 1 Điều 298 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính nguy hiểm cho xã hội, vi phạm về pháp luật xây dựng, vi phạm an toàn lao động trong thi công, không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật gây nên việc sập đổ hệ thống kéo tời làm thiệt hại đến tính mạng công dân với lỗi vô ý do cẩu thả đã gây hậu quả nghiêm trọng, nên cần xử lý nghiêm
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[6] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[7] Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị cáo đã kết hợp cùng anh Nguyễn Trung K bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và do bị hại cũng có một phần lỗi không trang bị bảo hộ bắt buộc của cá nhân trong khi thi công dẫn đến tai nạn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt áp dụng:
[8] Xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nên Hội đồng xét xử thấy cần xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật dựa trên cơ sở đề xuất mức hình phạt của Viện Kiểm sát đề nghị, không cần thiết buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội mà chỉ cần xử phạt bị cáo hình phạt tù ở mức trên khởi điểm của khung hình phạt, nhưng cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, giao bị cáo về cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và gia đình quản lý, theo dõi, giám sát cũng đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[9] Theo quy định tại khoản 4 Điều 298 Bộ luật Hình sự, tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn, không có việc làm ổn định, là lao động chính trong gia đình và trên quan điểm Viện Kiểm sát đề nghị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[10] Đối với 03 chiếc gậy gỗ là vật không có giá trị, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Đối với 01 máy tời (Không có nhãn hiệu) cáp tời và dây thừng xác định là vật không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự:
[12] Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường, không có ý kiến và không có bất kỳ yêu cầu nào khác về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí:
[13] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[14] Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 298; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường C, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc được thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy 03 chiếc gậy gỗ không còn giá trị sử dụng.
+ Trả lại cho bị cáo 01 máy tời (Không có nhãn hiệu), cáp tời và cuộn dây thừng.
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại (có mặt) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể tự ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể tự ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đức Hoàng |
Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng
- Số bản án: 35/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - tội Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng
