|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2025/HSST
Ngày: 03/03/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trọng Dĩu
Bà Bùi Thị Minh Hoa
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Kim Yến - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên toà: Bà Lê Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 03 năm 2025 tại điểm cầu Trung tâm: Phòng xét xử trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam số 1 công an thành phố H xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/TLST-HS ngày 13/1/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HS ngày 17/02/2025 đối với bị cáo:
ĐỖ ĐỨC T, sinh ngày 07/11/1985; HKTT: Khu L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; Vợ Điêu Thị H (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2010;
Nhân thân:
Bản án số 263/2009/HSST ngày 29/9/2009 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản, bị can thi hành án phí ngày 25/5/2010 (đã được xóa án tích).
Bản án số 162/HSST ngày 22/9/2011 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử phạt 42 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt của 02 bản án là 54 tháng tù, ra trại ngày 17/5/2015, đã thi hành án phí hình sự sơ thẩm năm 2012 (đã được xóa án tích)
Bị cáo đầu thú ngày 12/11/2024. Tạm giữ ngày 12/11/2024. Tạm giam ngày 15/11/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an T.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Anh Đào Đình Đ, sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn Phú Thọ, xã Tề Lỗ, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc
Anh Đoàn vắng mặt tại phiên tòa
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Đình T3, sinh năm 1984
Địa chỉ: Số A phố chợ K, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Anh T3 vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Đức T và anh Đào Đình Đ (Sinh năm 1986, nơi thường trú: thôn P, T, Y, Vĩnh Phúc) là bạn học cấp 3. Tối ngày 26/11/2019, T đến số B T, T, Cầu G, Hà Nội gặp anh Đ. Tại đây, T hỏi mượn anh Đ chiếc xe mô tô Honda Lead màu xanh vàng biển kiểm soát 29P1- 422.61 để đi việc cá nhân và hẹn trả sau khoảng 01 tiếng. Anh Đ đồng ý. Sau khi mượn được xe và sử dụng. Ngày hôm sau, T có việc về quê. Anh Đ gọi điện để đòi xe nhưng T nói đang ở quê nên chưa mang xe về trả được. Đến ngày 30/11/2019, khi đang ở nhà tại Y, Cầu G, Hà Nội, do không có tiền tiêu sài nên T nảy sinh ý định mang xe của anh Đ đi bán. Thông qua người quen tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) giới thiệu, T mang chiếc xe trên đến gặp anh Đặng Đình T3 (Sinh năm 1984, nơi thường trú: Số 146/218 phố chợ K, T, Đ, Hà Nội) và nói là xe của T, giấy tờ xe vợ T đang giữ. Anh T3 đồng ý mua xe với giá 21.000.000 đồng. Thuật viết giấy bán xe cho anh T3 với số tiền thỏa thuận ghi trong giấy là 10.000.000 đồng và nhận của anh T3 8.500.000 đồng. Hẹn đến ngày 15/01/2020 sẽ làm thủ tục sang tên xe sẽ trả nốt tiền. Đến ngày 06/12/2019, anh Đ không thấy T mang xe về trả nên đã liền hệ với T để đòi xe. Qua điện thoại, T thừa nhận đã mang chiếc xe đi bán cho anh T3 và cho số điện thoại của anh T3. Số tiền bán được xe, T đã chi tiêu hết rồi bỏ trốn. Đến ngày 12/12/2019, anh Đ liên hệ với anh T3 và chuộc lại chiếc xe với giá 8.500.000 đồng. Đồng thời có đơn trình báo Cơ quan công an. Ngày 12/11/2024, Đỗ Đức T đến Công an T đầu thú.
Tang vật thu giữ: 01 xe máy Honda Lead biển kiểm soát 29P1-422.61 và 01 chìa khóa xe, 01 giấy bán xe mang tên Đỗ Đức T (BL 72)
Tại Kết luận định giá tài sản số 369/TCKH-BBĐGTS ngày 07/9/2023 trong tố tụng hình sự quận C kết luận: 01 xe mô tô Honda Lead màu xanh vàng BKS 29P1-422.61, số khung: RLHJF4508DY657882, số máy: JF45E312773 (Đã qua sử dụng từ tháng 12/2014) trị giá: 18.570.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm bảy mươi ngàn đồng) (BL 55).
Tại Kết luận giám định số 2154/KL-PC09-Đ3 ngày 18/3/2020 của phòng K1, Công an T kết luận:
- - Xe máy nhãn hiệu Honda Lead BKS 29P1-422.61 gửi giám định, hiện tại có số khung: RLHJF4508DY657882, số máy: JF45E312773 là số nguyên thủy.
- - Không giám định biến kiểm soát: 29P1-422.61 do không có mẫu so sánh. (BL 59)
Tại Kết luận giám định số 6521/KL-KTHS ngày 02/10/2023 của phòng K1, Công an T kết luận: Chữ viết phần nội dung, chữ viết dòng họ tên Đỗ Đức T (dưới chữ ký) trên mẫu cần giám định là giấy bán xe đứng tên Đỗ Đức T (Ký hiệu A) với chữ viết phần nội dung, chữ viết dòng họ tên Đỗ Đức T (dưới chữ ký) trên mẫu so sánh là phiếu báo thay đổi hộ khẩu,nhân khẩu, người viết phiếu báo: Đỗ Đức T, đề ngày 23/7/2019 (Ký hiệu M) là chữ do cùng một người viết ra.
Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Đỗ Đức T trên mẫu cần giám định là giấy bán xe đứng tên Đỗ Đức T (Ký hiệu A) với chữ ký đứng tên Đỗ Đức T trên mẫu so sánh là phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, người viết phiếu báo: Đỗ Đức T, đề ngày 23/7/2019 (Ký hiệu M) có phải là chữ do cùng một người ký ra hay không. (BL 61).
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Đỗ Đức T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Quá trình điều tra, xác định chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead BKS 29P1- 422.61 là tài sản của anh Đào Đình Đ. Ngày 30/3/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận C đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho anh Đào Đình Đ chiếc xe trên. Tại cơ quan điều tra anh Đ chưa có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Cáo trạng số 18/CT - VKS ngày 13/1/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố Đỗ Đức T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Người bị hại anh Đào Đình Đ vắng mặt tại phiên tòa, tại đơn đề nghị bồi thường đề ngày 28/2/2025 anh Đ đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo đúng quy định của pháp luật. Về bồi thường thiệt hại: Anh đã bỏ ra số tiền 8.500.000 đồng để chuộc xe nên anh yêu cầu bị cáo bồi thường lại cho anh số tiền trên.
Tại phiên tòa bị cáo T có ý kiến: bị cáo bán xe của anh Đ cho anh T3 được 8.500.000 đồng và bị cáo đã tiêu hết số tiền này. Do vậy tại phiên tòa bị cáo đồng ý tự nguyện bồi thường cho anh Đ số tiền 8.500.000 đồng là tiền anh Đ đã phải bỏ ra để chuộc lại xe, tuy nhiên hiện nay bị cáo đang bị tạm giam nên chưa thể bồi thường cho anh Đ ngay được, bị cáo hứa khi bị cáo được ra tù sẽ cố gắng làm việc kiếm tiền để bồi thường cho anh Đ sớm nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng đối với Đỗ Đức T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a Khoản 1 Điều 175; điểm s Khoản Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đỗ Đức T mức án từ 15 đến 18 tháng tù giam về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Về dân sự: tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường cho anh Đ nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu về bồi thường của người bị hại: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đ số tiền 8.500.000 đồng
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: không
Đối với anh Đặng Đình T3: Tại thời điểm bị cáo T bán chiếc xe mô tô Honda LEAD biển kiểm soát 29P1-422.61 cho anh T3, T đã nói dối đây là xe của T nhờ người khác đứng tên nên anh T3 mới đồng ý đặt cọc để mua chiếc xe này. Do đó không đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh Đặng Đình T3 về hành vi “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đã truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản, các kết luận giám định, biên bản nhận dạng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 26/12/2019, tại số B T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội, Đỗ Đức T đã có hành vi mượn chiếc xe máy Honda Lead màu xanh vàng BKS 29P1-422.61 trị giá: 18.570.000 đồng (Mười tám triệu, năm trăm, bảy mươi ngàn đồng) của anh Đào Đình Đ để sử dụng. Sau đó, đến ngày 30/11/2029 do không có tiền tiêu sài nên T đã bán chiếc xe trên cho anh Đặng Đình T3 được 8.500.000 đồng. Số tiền này T đã tiêu hết và bỏ trốn.
Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Đức T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây mất lòng tin trong xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Về nhân thân: bản thân bị cáo đã có 2 tiền án về tội xâm phạm quyền sở hữu, tuy đã được xóa án tích nhưng cho thấy bị cáo đã được giáo dục bằng pháp luật nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội lần này vì vậy phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Đỗ Đức T sau khi phạm tội đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật hình sự.
[3] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[4] Về bồi thường dân sự và các vấn đề khác:
Về dân sự: Người bị hại anh Đào Đình Đ yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 8.500.000 đồng là tiền anh đã bỏ ra để chuộc chiếc xe máy Honda Lead màu xanh vàng BK5 29P1-422.61 từ anh T3. Tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường cho anh Đ số tiền 8.500.000 đồng. Do vậy, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Đào Đình Đ buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đ số tiền 8.500.000 đồng
Đối với anh Đặng Đình T3: Tại thời điểm bị cáo bán chiếc xe mô tô Honda LEAD biển kiểm soát 29P1-422.61 cho anh T3, bị cáo T đã nói dối đây là xe của T nhờ người khác đứng tên nên anh T3 mới đồng ý đặt cọc để mua chiếc xe này. Quá trình điều tra xác định anh T3 không biết chiếc xe mô tô anh mua có từ việc bị cáo T lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà có. Do vậy không đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh Đặng Đình T3 về hành vi “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
[5] Về xử lý vật chứng: không.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đức T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Áp dụng:
- + Điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s Khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- + Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 1 điều 584, khoản 1 điều 585, khoản 1 điều 586, điều 589 Bộ luật dân sự;
- + Áp dụng Điều 135, 331, 333 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
- + Khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án
Xử phạt bị cáo Đỗ Đức T 16 Mười sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 12/11/2024
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đỗ Đức T phải bồi thường cho anh Đào Đình Đ số tiền 8.500.000 (Tám triệu, năm trăm nghìn) đồng
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về vật chứng: không
4. Án phí, quyền kháng cáo:
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 425.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Thảo |
Bản án số 35/2025/HSST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 35/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LDTN
